Nhóm nhà nhân loại học là Minturn Leigh, Grosse Martin, Haider Santoah vào năm 1969 đã sử dụng phương pháp định lượng để khảo sát từ dữ liệu điền dã dân tộc học của 135 nền văn hóa khác nhau để tìm hiểu về niềm tin và hành vi tình dục của con người trong các nền văn hóa.
Mối quan hệ đồng tính trong nghiên cứu này thường tập trung vào quan hệ đồng tính của nhóm nam giới. Các ghi chép điền dã dân tộc học về quan hệ đồng tính thường chủ yếu tập trung vào nam giới hơn là nữ giới. Do ghi chép về quan hệ đồng tính ở nữ giới thường rất hiếm. Ở các nền văn hóa mà đồng tính nam bị lên án, chế giễu hoặc không được hiểu thường xảy ra ở dưới 20% dân số nam giới trong các nền văn hóa được khảo sát. Có khả năng tỷ lệ lên án đồng tính nam có thể cao hơn vì thang đo nghiên cứu chỉ đánh giá được nửa tổng số mẫu. Những mẫu có thể đánh giá được là ở những nền văn hóa hành vi đồng tính phổ biến, dễ dàng quan sát và báo cáo so với các nền văn hóa mà hành vi đồng tính hiếm gặp nên khó tìm được dữ liệu. Trong những nền văn hóa mà đồng tính diễn ra thường xuyên thì thường được thiết chế hóa.

Giới hạn của nghiên cứu này là hiếp dâm cũng chỉ giới hạn ở nam giới. Vì hình phạt dành cho phụ nữ có hành động hiếp dâm thường phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân hoặc quyết định hành động của họ. Khi phụ nữ bị trừng phạt, có vẻ như vụ việc đó không được các nền văn hóa định nghĩa là hiếp dâm. Hiếp dâm trong nghiên cứu này được định nghĩa là quan hệ tình dục mà không có đồng thuận tham gia của người phụ nữ.
Việc không trừng phạt tội hiếp dâm có tỷ lệ thường xuyên hơn so với việc trừng phạt hiếp dâm. Nhưng lưu ý chỉ 31% nền văn hóa trong mẫu nghiên cứu không có hình phạt hoặc kỳ thị xã hội đối với kẻ hiếp dâm. Điều này có thể là phần lớn các xã hội của các nhà nghiên cứu phương Tây khi thiết kế thang đo có thể khó mà đánh giá sát những loại hình thức trừng phạt đối với tội hiếp dâm. Điều này dẫn đến kết quả đo lường là hình phạt về tội hiếp dâm tương đối hiếm gặp ở 31% nền văn hóa đã nêu trên.
Thang tần suất hiếp dâm chỉ ra rằng không có nền văn hóa nào trong mẫu xem tất cả các mối quan hệ tình dục là hung hăng và chỉ có hai xã hội là Marshallese và Baiga coi hiếp dâm là hình thức ưa thích của hoạt động tình dục. Hai xã hội là Omaha và Mataco dường như không có bất kỳ khái niệm nào về hiếp dâm trong nền văn hóa của họ. Trong khi hai xã hội Arapesh và Ifaluk không có tỷ lệ hiếp dâm. Đối với bảy xã hội còn lại (86% mẫu), hiếp dâm xảy ra như một hành vi ít nhiều có tính lệch lạc.
Tần suất hiếp dâm là biến độc lập. Mối quan hệ đồng tính là biến phụ thuộc. Nghiên cứu cho thấy rằng đồng tính phổ biến ở các nền văn hóa có tỷ lệ hiếp dâm thấp.
Tài liệu tham khảo:
MINTURN, Leigh; GROSSE, Martin; HAIDER, Santoah. Cultural patterning of sexual beliefs and behavior. Ethnology, 1969, 8.3: 301-318.