Chúng tôi giới thiệu với các bạn bản dịch của kulavietnam về bài phỏng vấn Giáo sư nhân loại học hàng đầu người Pháp là Maurice Godelier trên tờ Le Monde của Pháp vào ngày 23–04–2023. Tựa bài gốc là Mariage pour tous : « L’humanité n’a cessé d’inventer de nouvelles formes de mariage » (Hôn nhân cho tất cả: “Loài người không ngừng phát minh ra các hình thức hôn nhân mới”). Bài phỏng vấn này cho mọi người hiểu hơn về hôn nhân đồng tính là biểu hiện của sự đa dạng văn hóa cần được chấp nhận.
Maurice Godelier là một trong những nhà nhân loại học nổi tiếng của Pháp. Ông hiện đang làm giám đốc nghiên cứu tại Trường Cao học Khoa học Xã hội. Ông đã nhận được Giải thưởng Viện Pháp và Huy chương Vàng của CNRS vào năm 2001 cho toàn bộ tác phẩm của mình. Ông được biết đến với cuốn sách “Métamorphoses de la parenté” – “Biến đổi của quan hệ họ hàng” (Flammarion, 2010).

Hỏi: Những người phản đối dự luật về hôn nhân đồng tính cho rằng đây là “sai lệch về mặt nhân loại học”. Ý kiến của ông về vấn đề này thế nào?
Đáp: Nhận định như thế không có nghĩa gì cả. Trong quá trình tiến hóa của các hệ thống thân tộc, có sự biến đổi nhưng đây không phải là sai lệch. Tất nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử, chúng ta không tìm thấy hôn nhân về đồng tính và gia đình đồng tính được thể chế hóa. Chúng ta phải hiểu vì sao điều này xảy ra. Vì trong hàng ngàn năm qua, xã hội luôn đánh giá cao mối quan hệ dị tính với mục đích sinh sản. Tuy nhiên, đôi khi đồng tính đã được công nhận trong việc hình thành cá nhân trong các xã hội như thời Hy Lạp là một ví dụ. Tôi đã sống trong một bộ tộc ở New Guinea trong vòng bảy năm là bộ tộc Baruya, nơi đó để trở thành một người đàn ông thì bạn phải trải qua nghi lễ trưởng thành. Những người đã trải qua nghi lễ này phải sống như cặp đôi đồng tính cho đến khi 20 tuổi. Đồng tính ở những người này có ý nghĩa chính trị và tôn giáo. Nhưng vấn đề về hôn nhân đồng tính và gia đình đồng tính là một vấn đề hiện đại, chưa từng được đặt ra trước đây.
Nhân loại luôn sáng tạo ra các hình thức hôn nhân và dòng dõi mới. Đó là lý do tại sao tôi nói về những biến đổi liên quan đến chúng. Ngày nay ở phương Tây, hai trục chính của mọi hệ thống thân tộc cũng phải dựa vào chính là liên minh và dòng dõi đều kết hợp các hình thức mới.
Vậy tại sao điều này lại xảy ra bây giờ? Đó là kết quả của bốn sự tiến hóa độc lập. Sự công nhận tiến bộ rằng đồng tính là một xu hướng tính dục khác biệt nhưng rất bình thường, sự xuất hiện một địa vị mới cho trẻ em, đồng thời là xuất hiện của công nghệ sinh sản mới và thực tế rằng trong một chế độ dân chủ, các nhóm thiểu số có thể đòi hỏi những quyền mới. Từ những điều đó cho thấy rằng chúng ta có thể và cần thiết cho phép những người đồng tính sống hợp pháp với xu hướng tính dục của chính họ và đối với những người đó cũng có thể nuôi dạy con cái.
Hỏi: Điều này đang gây ra nhiều sự phản đối…
Đáp: Chúng ta cần xem xét một số điểm cơ bản để tránh tiếp cận mang nặng ý thức hệ. Tôi đã đề cập đến điểm đầu tiên: đồng tính là một xu hướng tính dục khác biệt nhưng bình thường. Nó không phải là một căn bệnh, không phải là một đặc điểm lệch lạc, không phải là một tội lỗi. Hai loài linh trưởng gần nhất với chúng ta, giống như loài người, đều là loại song tính. Đó là một sự thật khoa học. Nếu chúng ta không công nhận điều này thì sự kỳ thị đồng tính sẽ tiếp tục tồn tại. Điểm thứ hai là tính dục cũng có nghĩa là ham muốn nhưng cũng có nghĩa là tình yêu. Người đồng tính thì họ cũng yêu nhau.
Hỏi: Các cặp đôi đồng tính không thể tự nhiên sinh con. Nhưng họ ngày càng có mong muốn có con…
Đáp: Điều này là hệ quả của phong trào tôn vinh trẻ em và tuổi thơ đã bắt đầu từ thế kỷ XVIII và được đề xướng bởi Jean–Jacques Rousseau. Điều này đã dẫn đến Tuyên bố Quốc tế về Quyền của Trẻ em.
Mong muốn về việc biểu đạt thông qua các thế hệ con cháu là một ý niệm phổ quát, nhưng tùy thuộc vào xã hội, chúng ta không nhìn nhận đứa trẻ theo cùng một cách. Trong thời La Mã cổ, một người cha phải giơ đứa bé lên trời để biến nó trở thành công dân. Nếu người cha để đứa bé trên mặt đất, đứa trẻ sẽ trở thành nô lệ hoặc bị chó tha đi. Ngày nay, trẻ em đã có giá trị mới. Trẻ em chính là nâng cao vai trò của người lớn và đối với nhiều người thì trẻ em đại diện cho nhiều lý tưởng tự thực hiện. Trẻ em không chỉ cho phép truyền đạt một cái tên, mà còn là giá trị cá nhân. Những người đồng tính tham gia vào phong trào này cũng giống như những người dị tính khác.
Hỏi: Một đứa trẻ sinh ra từ một người cha và một người mẹ. Liệu đứa trẻ có cần sự khác biệt giới tính này không?
Đáp: Tôi không muốn biến phụ nữ thành nam giới và ngược lại. Lý thuyết của Judith Butler nhấn mạnh rằng một người hoàn toàn có thể tự do thoát khỏi cơ thể sinh ra của mình, riêng đối với tôi đây là một giới hạn không thể vượt qua được. Tôi ủng hộ việc loại bỏ những khác biệt xã hội mà không còn cần thiết cũng như những khác biệt đã được xây dựng trong quá khứ. Tuy nhiên, vẫn có những khác biệt mang tính hữu ích.
Điều quan trọng những thứ được gọi là tính nam hay tính nữ thì ai cũng có thể đảm nhận chúng. Làm cha, làm mẹ thật ra mang tính chức năng. Trong xã hội của chúng ta, các vai trò giới này có thể dịch chuyển. Không phải ngày nay các ông bố cũng đảm nhận vai trò chăm sóc trẻ em như các bà mẹ sao? Điều này không thể loại bỏ hoàn toàn nhưng có thể tách rời khỏi giới tính.
Hỏi: Ông phân tích như thế nào về các lập luận của những người phản đối?
Đáp: Các nhà phân tâm học vẫn bị chia rẻ bởi các quan điểm khác nhau. Nhiều người vẫn coi cha là nhân vật trung tâm trong gia đình. Mỗi người chúng ta có thể có ba người cha: người cha sinh học (người cha huyết thống đẻ ra chúng ta), người cha mong muốn nhưng chỉ có trong tưởng tượng và người cha là biểu tượng chung cho tất cả mọi người và được định danh bởi Luật pháp. Vậy mẹ thì sao? Đối với các linh mục là những người không có con, gia đình thực sự là liên kết thiêng liêng giữa một người đàn ông và một người phụ nữ trước mặt Thiên Chúa và bên trong Thiên Chúa chính điều dẫn đến việc lệnh cấm ly dị. Quan niệm về gia đình này đã được hình thành bởi Cơ đốc giáo trong hàng thế kỷ và chỉ ở riêng ở phương Tây. Quan niệm đó cũng không có ý nghĩa gì trong nhiều xã hội khác. Quan niệm này cũng đang thay đổi kể từ khi người Hà Lan mà chủ yếu là người theo Kháng Cách đã chấp nhận hôn nhân đồng giới và quyền làm cha mẹ đồng giới.
Ở Baruya, mỗi cá nhân có nhiều người cha và nhiều người mẹ. Tất cả các anh em trai của cha đều được coi là cha, tất cả các chị em của mẹ đều được coi là mẹ. Liệu tất cả các gia đình ngoại trừ những gia đình ở phương Tây hậu Cơ đốc giáo có phải là gia đình hợp lý không? Nhân loại đã phát minh ra những điều này! Phản kháng lại những điều này là bình thường, chúng đi kèm với một sự thay đổi lớn về mặt xã hội và tinh thần. Hai người cùng giới tính sẽ có con, trong khi quy luật tự nhiên là phải có hai người khác giới tính mới thụ thai được. Tất cả các xã hội đã tìm ra giải pháp cho việc vô sinh. Chúng ta đều đã được hỗ trợ sinh sản về mặt y tế.
Cái cần hiểu là các khái niệm về quan hệ giữa cha mẹ con cái có hai khía cạnh: sinh học và xã hội. Trong lịch sử, hầu hết các xã hội đã nhấn mạnh khía cạnh xã hội. Xã hội của chúng ta có xu hướng ngược lại. Nhưng ngày nay, trong các gia đình hỗn hợp thì quan hệ họ hàng xã hội đã mở rộng. Người bạn đời hoặc đối tác mới được mong đợi hành xử như một người cha hoặc mẹ với những đứa trẻ được thụ tinh bởi người khác.
Hỏi: Một số người lo ngại rằng việc hợp pháp hóa đồng tính sẽ phá vỡ cấm kỵ về loạn luân…
Đáp: Chúng ta thật sự hiểu gì về điều này? Cấm kỵ là một điều kiện phổ quát của bất kỳ xã hội nào. Nếu mọi gia đình tự sinh sản ra thế hệ mới thì xã hội sẽ không thể tồn tại. Cấm kỵ là một yếu tố tạo ra xã hội, được truyền đạt cho mỗi cá nhân và nội tâm hóa bởi mỗi người, bao gồm cả người đồng tính và người dị tính. Những ý kiến lo ngại này là không cơ sở. Không thể có tình trạng loạn luân ở người đồng tính nhiều hơn khi so với người dị tính.
Hỏi: Vậy nhà nước có nên ủng hộ và hợp pháp hóa những thay đổi này không?
Đáp: Nhà nước nên can thiệp để xác định trách nhiệm pháp lý. Có thể xảy ra trường hợp các cặp đôi đồng tính chia tay. Cần thiết phải thiết lập một khung pháp lý. Cần trừng phạt hành vi phân biệt đối với người đồng tính, vốn là những hành vi gây tổn hại cho cha mẹ và con cái. Có nhiều chính phủ khác đã thực hiện điều này. Chưa một xã hội nào đã chấp nhận những thay đổi này dẫn đến sụp đổ. Điều đó đã trở thành điều bình thường, giống như việc có con mà không kết hôn đã trở thành điều bình thường ngày nay.