Ở nhiều vùng khác nhau ở Châu Phi tồn tại một hình thức hôn nhân được gọi là hôn nhân phụ nữ. Hình thức hôn nhân này nghĩa là một người phụ nữ trả tiền để cưới một người phụ nữ khác về làm vợ. Người phụ nữ bỏ sính lễ ra cưới người phụ nữ khác về được gọi là chồng. Người chồng – nữ này sau đó có toàn quyền đối với vợ và bất kỳ đứa con nào được sinh ra.
Hôn nhân phụ nữ đã được ghi nhận giữa các nhóm như Nuer ở Sudan, Ibo ở Nigeria và Lovedu ở Nam Phi. Nó phục vụ nhiều mục đích xã hội và cung cấp cái nhìn sâu sắc về các khái niệm địa phương về hôn nhân. Bài viết dưới đây nhằm nhấn mạnh rằng không phải nền văn hóa nào hôn nhân cũng xảy ra ở hai giới tính sinh học khác biệt, không phải lúc nào người cha cũng phải là người đàn ông giao phối với người phụ nữ.
Hôn nhân phụ nữ nảy sinh trong những bối cảnh xã hội cụ thể. Hầu hết các trường hợp xảy ra vì một trong ba lý do:
1. Để nuôi một người thừa kế. Nếu gia đình không có con trai, con gái có thể lấy vợ để sinh con trai kế thừa tài sản và nối dõi tông đường. Điều này xảy ra giữa Nuer, Ibo, Lovedu và Zulu.
2. Bởi vì người phụ nữ đạt được sự giàu có. Ở người Nuer, chỉ những phụ nữ hiếm muộn mới có thể sở hữu tài sản. Một người phụ nữ Nuer lớn tuổi với tài sản riêng có thể lấy vợ và có con thuộc dòng dõi của mình. Tương tự, phụ nữ Ibo, Yoruba và Dahomean giàu có cũng lấy vợ.
3. Để giành được quyền làm dâu. Ở một số xã hội như Lovedu, khi tài sản của một người phụ nữ được sử dụng để cưới cô dâu cho anh trai mình, sau này cô ấy có quyền đòi một đứa con gái từ cuộc hôn nhân đó. Nếu cô ấy không có con trai, cô ấy có thể tự mình cưới cô gái đó.
Hai người phụ nữ Nuer kết hôn với nhau xảy ra khi một người phụ nữ không thể sinh con. Trong trường hợp này, cô ấy đảm nhận vai trò của một người chồng bằng cách cưới một người phụ nữ khác làm vợ. Người chồng – phụ nữ này thực hiện tất cả các nghi lễ và phong tục giống như người chồng đàn ông khi cưới vợ. Cô ta sẽ đứa sính lễ là đàn bò đến nhà gái để tiến hành lễ đính hôn và đám cưới. Người chồng – phụ nữ được coi là cha hợp pháp của bất kỳ đứa con nào do vợ cô ấy sinh ra. Nếu người chồng – phụ nữ này có con gái và đứa con gái này khi lớn lên được gả đi thì người chồng – phụ nữ được quyền nhận hết sính lễ bên nhà trai. Vì người chồng – phụ nữ không thể thụ thai cho vợ mình nên đã sắp xếp để một người họ hàng nam, bạn bè hoặc hàng xóm làm nhiệm vụ ấy. Người đàn ông này có nhiệm vụ tẩm bổ cho vợ và hỗ trợ các công việc của đàn ông quanh nhà. Anh ta nhận được một con bò như một khoản thanh toán cho quan hệ cha con ruột thịt của mình khi những đứa trẻ kết hôn.
Người chồng – phụ nữ được toàn quyền với người vợ của mình, nếu người vợ ngoại tình thì người chồng – phụ nữ có quyền yêu cầu bồi thường. Những đứa trẻ coi người chồng – phụ nữ như cha ruột của mình và thuộc dòng dõi của bà. Họ xưng hô với cô ấy bằng những thuật ngữ họ hàng nam giới như “cha”. Xét về mọi mặt, cuộc hôn nhân giữa hai người phụ nữ cũng tuân theo các thủ tục và quy tắc giống như cuộc hôn nhân giữa một người đàn ông và một người phụ nữ. Người chồng – phụ nữ đóng vai nam, còn người vợ giữ vai trò nữ bình thường. Điều này cho phép một người phụ nữ vô sinh có thể tham gia đầy đủ vào xã hội Nuer bằng cách đứng đầu trang trại của chính mình và tiếp tục dòng dõi của mình.
Xã hội của người Lovedu cũng tương tự vậy. Trong xã hội Lovedu, người chồng – phụ nữ chịu trách nhiệm nuôi dưỡng và cung cấp chỗ ở cho vợ mình. Cô ấy có thể chọn một người họ hàng nam giới để làm giao phối, đồng thời vẫn giữ quyền đối với con cái.
Tuy nhiên, vai trò này có thể không hoàn toàn tương đương với vai trò của một người chồng nam. Trong số các Lovedu mẫu hệ, được cai trị bởi những người cai trị nữ, các vai trò như chủ hộ hoặc trưởng làng có thể được nắm giữ bởi cả hai giới. Một người chồng – phụ nữ Lovedu không nhất thiết phải đảm nhận vai trò “nam giới”.
Hôn nhân phụ nữ có những chức năng xã hội quan trọng:
• Tạo ra người thừa kế: Người phụ nữ lấy vợ để sinh con trai để không cho dòng dõi của họ bị tuyệt tự.
• Cung cấp lao động: Trong số những người Dahomey đa thê, phụ nữ cưới nhiều vợ để tạo ra nguồn lực lao động trên ruộng.
• Địa vị: Phụ nữ Ibo lấy vợ đã tăng cường ảnh hưởng ở địa phương.
• Trong xã hội Lovedu, các tù trưởng gửi con gái cho nữ hoàng làm vợ để củng cố mối quan hệ chính trị.
Hôn nhân phụ nữ thường bị người ngoài hiểu lầm. Các nhà nhân loại học ban đầu cho rằng nó phải liên quan đến các mối quan hệ đồng tính nữ, nhưng thực tế không phải vậy. Những người chồng – phụ nữ cưới vợ để có được địa vị xã hội chứ không phải sự thỏa mãn tình dục từ những cuộc hôn nhân như vậy.
Trong các nền văn hóa liên quan, hôn nhân phụ nữ được chấp nhận như một lựa chọn bình thường đối với một số phụ nữ trong những hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ, một người phụ nữ Lovedu không có con trai có thể cưới một cô dâu mà không bị kỳ thị. Mặc dù không phổ biến về mặt thống kê, nhưng hôn nhân phụ nữ được tích hợp vào hệ thống họ hàng và đóng những vai trò có ý nghĩa ở những nơi được tìm thấy.
Hôn nhân phụ nữ cũng gắn liền với những niềm tin rộng rãi hơn về giới tính. Người Nuer và Dahomeans coi phụ nữ hiếm muộn được trời phú cho những đặc tính “nam giới” như sức mạnh và trí tuệ. Điều này cho phép người chồng – phụ nữ có quyền kiểm soát vợ mình. Trên khắp châu Phi, tầm quan trọng gắn liền với việc tiếp tục theo chế độ phụ hệ tạo ra sự linh hoạt trong việc ai có thể thực hiện nghĩa vụ hôn nhân.
Tài liệu tham khảo:
Evans-Pritchard, E. E. (1951). Kinship and Marriage among the Nuer.
Krige, E. (1974). Woman-Marriage, with Special Reference to the Louedu—its Significance for the Definition of Marriage. Africa, 44(1), 11-37. doi:10.2307/1158564