Dù học phí Đại học tăng cao nhưng chúng tôi vẫn khuyến khích các bạn trẻ học sinh hãy dấn thân vào con đường Đại học nếu đam mê và ham thú của bạn là mưu cầu tri thức chứ không phải là công danh, lợi lộc. Kulavietnam hân hạnh được dịch và giới thiệu bài tiểu luận của thành viên chúng tôi đang học Nghiên cứu sinh về Nhân loại học ở Bỉ. Chúng tôi đã xin phép thành viên ấy đăng bài vì đây là một bài tiểu luận ngắn của bạn ấy trong quá trình học trước đây. Bài viết phản ánh quan điểm cá nhân của tác giả, không phản ánh quan điểm của kulavietnam. Một số thành viên của nhóm chúng tôi không hẳn hoàn toàn đồng tính về quan điểm bài viết này. Quan trọng, bài viết này cho chúng ta thấy được ngành Nhân loại học đang phải đối mặt thách thức gì trong bối cảnh hiện nay. Bạn trẻ đang còn ngỡ ngàng với nhân loại học là gì? Thì bài viết này sẽ cho các bạn thấy đây là một ngành lãng mạn của những kẻ mộng mơ, không tuân thủ các quy tắc và luôn muốn xé rào để khám phá sâu tận cùng những lớp vỏ của đời sống muôn loài, hay nói đúng hơn đây là ngành của NHỮNG KẺ KHÔNG BAO GIỜ CHỊU NGỒI YÊN.
Lưu ý: Bài này khó đọc, cần có nền tảng về khoa học xã hội.
TƯƠNG LAI CỦA NHÂN LOẠI HỌC NẰM TRONG NHỮNG CÂU HỎI “ĐÚNG”
Nhân loại học luôn “không chắc chắn về tư cách khoa học của mình” (Latour, 2017, tr. 35). Ngoài ra, nhân loại học đã mất đi thế độc quyền về cái gọi là phương pháp luận “dân tộc học”, đánh mất cả các khái niệm trung tâm/độc đáo và đối tượng nghiên cứu (Comaroff, 2010). Nhân loại học cũng đã mất đi thương hiệu và độc quyền về các chủ đề do mô hình toàn diện của nó (Hannerz, 2010). Làm thế nào chúng ta có thể nhìn vào tương lai của nhân loại học từ tình trạng “bi quan” mà nhân loại học đang đối mặt? Tuy nhiên, tôi tin rằng đó không phải là những cuộc khủng hoảng của chúng ta; thay vào đó, chúng là những đặc điểm của ngành học này. Do đó, chúng ta nên chấp nhận vẻ đẹp của nó và duy trì truyền thống của nó thay vì chìm đắm trong lo lắng và nghi ngờ về “mạng lưới” mà chúng ta đang làm việc.
Tương lai của nhân loại học nằm trong việc đặt những câu hỏi “đúng”. Điều này có vẻ vô nghĩa vì nhân loại học từ bản chất đã tràn đầy những câu hỏi không có (đáp án thỏa đáng). “Bước ngoặt tự phản tư” cuối cùng chỉ trở thành “phiên bản che giấu của việc tự hủy diệt cái tôi” và “tái sản xuất của sự vô tri của người da trắng” (Klinkert, 2021). Tuy nhiên, việc tiếp tục trình bày các luận điểm và phê phán và đặt ra những câu hỏi mới là dấu hiệu của việc quan tâm mạnh mẽ đến nhân loại học và đời sống. Một câu hỏi tốt chính là câu trả lời chính xác đối với những câu hỏi trước đó, hiện thực hóa một cái góc nhìn cụ thể. Thay vì cố gắng xác định nhân loại học bằng đối tượng nghiên cứu, khái niệm hoặc phương pháp, giá trị của nó nằm trong những quan điểm mà nó đưa ra để đáp ứng một câu hỏi cụ thể để nhìn thế giới, tương tự như các ngành học khác. Do đó, đề xuất rằng câu hỏi “không phải là liệu nhân loại học có phải là một khoa học hay không, mà là loại khoa học nào mà nhân loại học nên trở thành?” (Nyamnjoh, 2015, tr. 60). Thay vì nghiên cứu nhân loại học thông qua phương pháp chủ nghĩa duy vật, có thể tiếp cận nhân loại học bằng cách tạo ra một định nghĩa khác biệt về khoa học giải phóng nhà nhân loại học khỏi các giới hạn của các ngành học truyền thống. Nó có thể là một ngành học không tuân thủ quy tắc, với những nguyên tắc độc đáo quản lý tính hợp lệ, tính khái quát và độ tin cậy, những đặc điểm thường được coi là điểm yếu của nghiên cứu định tính. Tiến bộ của nhân loại học được đạt được một cách tịnh tiến thông qua một tinh thần giải phóng để tiếp cận “câu hỏi đúng”.
Không thể phủ nhận rằng các học giả thường lo lắng và quan ngại về ngày “Tận thế của Nhân loại học” là có căn cứ. Chúng ta cũng không thể an ủi bản thân trong tâm bão bằng việc biện minh rằng các ngành học khác cũng đang đối mặt với những thách thức tương tự (Comaroff, 2010). Thay vào đó, chúng ta phải giữ bình tĩnh bằng cách nhìn thấy rằng nhân loại học không nghiên cứu về con người hoặc văn hóa mà là về cuộc sống, một thực thể không ngừng thay đổi và tiến hóa. Tính toàn diện, không tuân thủ các quy tắc và không chính thống của nhân loại học cho phép chúng ta chạm vào mọi ngóc ngách của cuộc sống đầy mơ hồ, nghịch lý, căng thẳng và không chắc chắn. Tương lai của nhân loại học trong việc tìm hiểu tận cùng tính phức tạp của cuộc sống đầy mơ hồ, nghịch lý, căng thẳng và không chắc chắn đấy. Mặc dù điều này có thể khiến chúng ta cảm thấy bất lực và buông xuôi tranh đấu, nhưng đó là tiền đề cần thiết cho việc khám phá những câu hỏi mới. Bởi vì, cho dù nhân loại học hay là cuộc sống kia thì chúng ta luôn luôn trong tình huống trải nghiệm và thương thảo như kiểu đang đi bộ trong một cánh đồng sương mù.
Tuy nhiên, nhân loại học không chỉ là việc đặt câu hỏi như những triết gia chỉ ngồi một chỗ mà nó còn chính là “một thực hành giáo dục” (Ingold, 2014, tr. 388) bằng cách tạo điều kiện để đặt những câu hỏi “đúng” thông qua phương pháp dân tộc học. “Nhân loại học là một ngành học nhưng phương pháp dân tộc học là mục tiêu” (Miller, 2017), vì vậy nhà nhân loại học phải bén rễ vào cuộc sống và cùng người khác tạo ra chất liệu bằng cách vượt ra bên ngoài của bức tường trường đại học và cơ quan để làm việc với tha nhân. Trong lĩnh vực này, chúng ta nghĩ theo nhiều hướng để xây dựng lý thuyết từ dữ liệu dân tộc học. Các quy tắc của ngành trở nên mờ nhạt và giới hạn trong ngành nhân loại học cho phép chúng ta phiêu lưu và tò mò như một đứa trẻ trong hành trình học để quên đi những thứ đã học. Hơn nữa, ưu tiên phương pháp dân tộc học chính là phản ánh một thái độ “khiếm tốn của nhà nhân loại học” khi tin tưởng vào tha nhân kia biết những gì (cần) làm với cuộc sống của mình. Từ đó, chúng ta tham khảo và so sánh với cách của chúng ta với của tha nhân để rút ra được những điều phải làm cho cuộc sống của chúng ta, vì vậy “nhân loại học có thể mang đến hy vọng và khả năng” (Nyamnjoh, 2015, tr. 61) theo cách này. Quả thực, những gì chúng ta cần tập trung vào cho tương lai không gì khác ngoài cam kết với những truyền thống cốt lõi tạo nên nhân loại học, xây dựng lý thuyết từ dưới lên thay vì sử dụng các khái niệm của triết học phương Tây để giải thích bối cảnh nghiên cứu. Cuối cùng, nhân loại học là “triết học của nhân dân” (Ingold, 2018, tr. 4).
Vì vậy, trong việc nhìn vào tương lai của nhân loại học, chúng ta phải làm thế nào để đối mặt với quá khứ? Appadurai (2013, tr. 285) đã chỉ ra rằng “cơ sở hạ tầng tri thức của nhân loại học […], vẫn được hình thành đáng kể bởi việc nhìn lại từ quá khứ”, điều này có thể được coi là di sản của nhân loại học như một ngành học từ việc sản xuất tri thức bởi phương pháp dân tộc học. Dù là gì đi nữa, chúng ta có thể đắm mình trong vòng xoáy của quá khứ với “logic của việc tái sản xuất, sức mạnh của phong tục, động lực của ký ức, tồn tại của các tập quán mà mỗi ngày đều lạnh lùng trôi qua và truyền thống được đan cài khéo léo trong đời sống xã hội bên trong những phong trào và cộng đồng hiện đại nhất” (Appadurai, 2013, tr. 285). Tuy nhiên, điều tra xem câu hỏi đã thay đổi như thế nào trong lịch sử là đầu mối để khơi gợi ý tưởng mới trong việc so sánh và phân tích vào dữ liệu dân tộc học. Do đó, chúng ta không giải quyết vấn đề với quá khứ. Thay vào đó, chúng ta làm việc với quá khứ, bất kể trong hay ngoài vòng tròn học thuật của chúng ta thì đó chính là công việc cộng tác khám phá. Nhân loại học chính là sự tổng hòa của quá khứ, hiện tại và tương lai.
Tóm lại, vì bản chất của ngành Nhân loại học đòi hỏi chúng ta thách thức các cách quen thuộc của chúng ta trong thế giới, nếu tất cả những câu hỏi và bí ẩn của cuộc sống được trả lời, nhân loại học sẽ ngừng tồn tại dưới hình thức đúng đắn của nó. Do đó, nhân loại học dũng cảm đối mặt với tương lai không chắc chắn của mình bằng cách bắt đầu bằng một “câu hỏi tốt” và sau đó tiến tới “các câu hỏi khác tốt hơn”. Cuối cùng, “việc hiểu biết chính là cam kết cả đời cho phản tư, đối thoại và hòa nhập, từ việc tò mò không ngừng và phải luôn tỉnh táo để thách thức cách thấu hiểu, suy nghĩ và tồn tại theo kiểu thông thường” (Nyamnjoh, 2015, tr. 61).
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Appadurai, A. (2013). The Future as Cultural Fact: Essays on the Global Condition. Verso Books.
Comaroff, J. (2010). The End of Anthropology, Again: On the Future of an In/Discipline.
American Anthropologist, 112(4), 524–538.
Hannerz, U. (2010). Anthropology’s World: Life in a Twenty-First-Century Discipline. Pluto Press.
Ingold, T. (2014). That’s enough about ethnography! HAU: Journal of Ethnographic Theory, 4(1), 383–395.
Ingold, T. (2018). Anthropology: Why It Matters. John Wiley & Sons.
Klinkert, V. L. (2021). Humbling anthropology: Ego reflexivus and White ignorance. HAU: Journal of Ethnographic Theory, 11(1), 309–318.
Latour, B. (2017). Anthropology at the Time of the Anthropocene: A Personal View of What Is to Be Studied. In M. Brightman & J. Lewis (Eds.), The Anthropology of Sustainability: Beyond Development and Progress (pp. 35–49). Palgrave Macmillan US.
Miller, D. (2017). Anthropology is the discipline but the goal is ethnography. HAU: Journal of Ethnographic Theory, 7(1), 27–31.
Nyamnjoh, F. B. (2015). Beyond an evangelising public anthropology: Science, theory and commitment. Journal of Contemporary African Studies, 33(1), 48–63.