Hôm nay chúng tôi đã khóc khi đọc bài nghiên cứu của một bạn sinh viên trẻ học ngành Nhân loại học nghiên cứu về tri thức bản địa của tộc người thiểu số ở miền Nam Việt Nam.
Chúng tôi không nghĩ rằng chúng tôi khóc, vì thật sự cảm động trong thời đại này. Những bạn trẻ dù áp lực học tập trường Đại học , vẫn mỗi tuần dành 2-3 ngày đi xe máy từ thành phố vào rừng mấy trăm cây số để tìm hiểu tri thức bản địa tộc người thiểu số. Không nhận được bất cứ tài trợ nào, bị tai nạn xe mấy lần, sức khỏe suy giảm. Nhưng các bạn vẫn hoàn thành xuất sắc đề tài các bạn ấy và đạt hạng nhất.
Thật sự khâm phục.
Các bạn làm chúng tôi nhớ lại 8 năm trước khi chúng tôi đi xe máy lên những con dốc ở Tây Nguyên đi lên buôn làng của người Jorai, Sedang. Cái mùa hè nóng bức đó, chúng tôi lên nương lên rẫy với cộng đồng. Ở đó, mặt trời chói lóa treo trên đầu chúng tôi như hy vọng của tuổi trẻ khi tiến vào con đường Nhân loại học.
Giảng viên - cô của chúng tôi đã giảng dạy trên lớp là “Nhân loại học là nghiên cứu cộng đồng”. Đúng vậy, nhà nhân loại học không cần công chúng hiểu công việc của mình. Nhưng nhiệm vụ nhà nhân loại học là cầu nối để các cộng đồng hiểu nhau. Không phải cứ ném tiền hay trưng cái nghèo, cái khổ, cái “hủ tục” của họ lên màn ảnh để mọi người vào thương cảm, khóc lóc là đang giúp cho cộng đồng đó. Mà phải hiểu cộng đồng đó trước đã thì mới giúp họ được.
Một thế hệ mới sinh viên ngành Nhân loại học ở Việt Nam sắp gia nhập. Các bạn sinh viên đang học Nhân loại học ở Nam hay Bắc, nếu hứng thú nghiên cứu cộng đồng tộc người bản địa là điều đáng quý. Vì nghiên cứu về cộng đồng này càng ngày càng ít đi, nhưng họ là những cộng đồng dễ bị tổn thương nhất bởi phá rừng, biến đổi khí hậu, khai thác quặng,… Việc ở với họ trong thời gian dài chính người bản địa là người thầy của các bạn để dạy cho bạn giá trị nhân văn nhất giữa con người và tự nhiên.
Tại sao Oscar Salemink, Philip Taylor, McElwee, Erik Harms, những người nước ngoài nhưng tại sao nghiên cứu về Việt Nam và người bản địa ở Việt Nam hay vậy? Mà tại sao chúng ta ở Việt Nam lại không thể làm tót như thế? Chắc chắn ai hiểu cấu trúc xã hội Việt Nam đều có câu trẳ lời.
Cố nhà nhân loại học David Graeber đã viết rằng “Sự thật tối thượng ẩn giấu về thế giới là nó là một cái gì đó mà chúng ta tạo nên, và có thể dễ dàng tạo ra theo một cách khác.”. Năm 2016, nhà nữ nhân loại học Sherry Ortner kêu gọi chúng ta thực hành lý thuyết Thực tiễn (practice theory) để tạo ra hành động có tính thực tiễn để thay đổi đời sống này. Bà cũng kêu gọi hãy hướng tối một nhân loại học về những điều tốt đẹp khi tìm hiểu cách các cộng đồng thực hành chánh niệm, vượt qua đau khổ, định nghĩa hạnh phúc của họ thế nào.
Vì thế, thế hệ sinh viên trẻ nhân loại học tại Việt Nam chính là những người tiên phong và quan trọng trong tương lai nghiên cứu về các cộng đồng để có thể cùng cộng đồng xây dựng những giá trị tốt đẹp vượt qua những khó khăn trong thời đại chúng ta.
Hy vọng là điều tiên quyết khi lầm việc với cộng đồng dù đó là những cộng đồng tăm tối nhất. Nếu chúng ta nói “mọi thứ đã thế rồi” nghĩa là chúng ta đang chấp nhận hiện tại đau đớn đang đè lên thân xác chúng ta, không hề còn động lực nào để giải quyết tình trạng bất bình đẳng của con người được. Thay vào đó hãy nói rằng “mọi thứ chỉ có khả năng” như là một hành động thực tiễn để thay đổi thế giới ấy. Chính sinh viên trẻ tại Việt Nam làm việc trong lãnh trường nhân loại học tương lai chính là người đem lại hy vọng mới.