Vừa từ bến xe miền Đông mới trở về Sài Gòn trong chuyến du hành ở xứ P’tao. Chúng tôi cùng nhau phóng xe máy đến rạp phim để xem “Sáng đèn”, một bộ phim của đạo diễn Hoàng Tuấn Cường nói về nghệ thuật sân khấu của Nam bộ. Thời điểm bộ phim diễn ra là vào khoảng thập niên 90 khi các gánh hát dần tan rã bởi thời thế.
Trong bộ phim “Sáng đèn”, dưới góc độ của một người học Nhân loại học, chúng tôi đã suy nghĩ lại rất nhiều về cái gọi là “huyết thống” trong văn hóa xã hội Việt Nam. Lịch sử văn hóa Việt Nam có thật sự đề cao gia đình phải là huyết thống? Hay có nhiều loại hình gia đình khác kiểu gia đình hạt nhân/truyền thống mà chúng ta chưa khám phá? Và “gia đình” mới mẻ này đã được khắc họa qua mối quan hệ của các thành viên trong gánh hát Viễn Phương từ bộ phim Sáng đèn.
Trong cuốn “What Kinship Is - And Is Not”, nhà nhân loại học Marshall Sahlins cho rằng đặc điểm cốt lõi của quan hệ thân tộc là sự “tương hỗ trong sự tồn tại” (mutuality of being), tức các thành viên tham gia nội tại vào đời sống của nhau, sống và chết cùng nhau về mặt cảm xúc và biểu tượng. Theo đó, thân tộc không chỉ được định nghĩa bởi quan hệ huyết thống mà còn bởi sự gắn kết thân thiết và sẻ chia của những người cùng chung một thực thể xã hội.
Bộ phim “Sáng đèn” của đạo diễn Hoàng Tuấn Cường đã khéo léo vẽ nên chân dung một đại gia đình phi huyết thống như thế - gánh hát Viễn Phương. Không ai trong số họ có quan hệ máu mủ ruột thịt, nhưng tình cảm gắn bó giữa các thành viên còn sâu sắc hơn nhiều gia đình chính thức.
Trong bộ phim, qua cách xưng hô của các thành viên trong đoàn hát với ông Bầu thường gọi là “Ba Bầu”. Cách xưng hô vậy cho thấy một mối quan hệ thân tộc hiện hữu và tương hỗ kết nối thành viên đoàn hát với nhau. Các nghệ sĩ trong gánh hát đã cùng nhau trải qua vô vàn thăng trầm, cùng hò hét trên sân khấu lẫn chung tay gánh vác phía sau hậu trường. Để gánh hát tồn tại, họ phải tìm đủ mọi cách mưu sinh, từ diễn hát đến những công việc nặng nhọc khác. Nhưng dù cuộc sống có khó khăn vất vả thế nào, tinh thần tương thân tương ái và lòng yêu nghề vẫn giúp họ gắn kết như một thể thống nhất.
Sahlins nhấn mạnh thân tộc không phải là sự ẩn dụ cho quan hệ sinh học mà ngược lại, chính trật tự thân tộc làm nền tảng cho đời sống xã hội. Điều này thể hiện rõ trong mối quan hệ giữa các thành viên của gánh hát Viễn Phương. Họ sẵn sàng cởi bỏ cái tôi cá nhân để hòa vào tập thể, thấu hiểu và chia sẻ với đồng nghiệp. Đối với nhiều người, gánh hát còn hơn cả một gia đình ruột thịt. Nó tạo nên một mối liên hệ bền chặt trên nhiều phương diện - thầy trò, cha con, vợ chồng, bạn đời, đồng nghiệp - mà các thành viên gọi là “đạo hát”.
Những cảnh phim cảm động như lúc kép chính Cao Minh Đạt giằng xé giữa đi lấy vợ hay gắn bó với sân khấu, hay lúc ông thầy đàn kiếm tìm gia đình thất lạc, chỉ xuất hiện thoáng qua nhưng đủ khắc họa một mối liên kết thiêng liêng vượt lên trên cả huyết thống. Lòng trung thành và sự hy sinh được các nghệ sĩ thể hiện với nhau chính là minh chứng cho sự “tương hỗ trong sự tồn tại” mà Sahlins đề cao.
“Sáng đèn” không chỉ là câu chuyện về một gánh hát miền Tây. Đó còn là câu chuyện về định nghĩa lại khái niệm gia đình và thân tộc. Như Sahlins chỉ ra, sự tương hỗ trong tồn tại không dành riêng cho các quan hệ huyết thống, mà có thể bao gồm nhiều dạng quan hệ khác nhau. Phim đã cho thấy, dưới góc nhìn nhân loại học, gia đình không chỉ dựa trên quan hệ máu mủ hay hôn nhân, mà còn dựa trên sự gắn kết mật thiết về mặt tình cảm, trách nhiệm và kinh tế xã hội. Theo đó, hình mẫu gia đình phi huyết thống trong “Sáng đèn” hoàn toàn phù hợp với lý thuyết thân tộc mà Sahlins đề xuất.
Có thể thấy qua việc khắc họa tình cảm của các nghệ sĩ hát bội, “Sáng đèn” đã gián tiếp thách thức quan điểm truyền thống định nghĩa gia đình chỉ gói gọn trong các mối quan hệ có nguồn gốc sinh học. Trên hết, bộ phim còn gợi mở việc nhìn nhận lại khái niệm thân tộc từ nhiều góc độ, không chỉ dựa trên yếu tố tự nhiên mà còn từ các yếu tố văn hóa xã hội. Đây cũng chính là giá trị nhân văn sâu sắc mà Hoàng Tuấn Cường muốn gửi gắm.