CHĂM SÓC CON NHƯ MỘT THỰC HÀNH TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN TẠI NÔNG THÔN TÂY NAM BỘ

“Anh biết không, em bị nhốt ở nhà hoài từ hồi học cấp 2, đến cấp 3 thì mẹ em mới cho em ra đường tí. Mỗi lần ra đường là cứ nói là ‘Mày đi xa sẽ bị bắt cóc’.”

Tôi gặp Chi, một nữ sinh lớp 11 sống ở vùng nông thôn Kiên Giang. Gia đình cô làm nghề buôn bán chuối dọc các tỉnh miền Tây. Da cô bé ngâm đen, đôi mắt sáng và giọng nói trong trẻo. Chúng tôi trò chuyện trước hiên nhà về dự định của cô sau khi tốt nghiệp lớp 12.

Khi tôi hỏi về kế hoạch tương lai, Chi chia sẻ: “Em không biết nữa, nhưng em muốn vào Đại học. Mẹ em muốn em học sư phạm Mầm non ở Kiên Giang này cho gần nhà. Nhưng em muốn học ở Sài Gòn hơn. Em muốn học Tâm lý học.”

Chi giải thích lý do chọn ngành: “Tại em thấy trên Facebook cái ngành đó hay, hiểu tâm lý đối phương này kia.” Mặc dù mẹ cô khẳng định “em thích học là cho em học”, nhưng vẫn muốn con gái học gần nhà. Chi đã phản ứng khá thông minh: “Em có nói với mẹ, ‘Không lẽ con đậu Sài Gòn, có giấy trúng tuyển mẹ không cho con học hả?‘”

Tôi gặp lại Chi khi cô đang làm việc tại quán cà phê của người họ hàng. Mẹ cô lo ngại con gái ở nhà chỉ “bấm điện thoại” nên đã sắp xếp cho Chi làm việc ở đây trong kỳ nghỉ hè. Dù vậy, mẹ cô vẫn gọi điện mỗi ngày nhắc nhở không được ra ngoài đường lộ lớn, mặc dù quán cà phê nằm ngay bên đường quốc lộ.

Chi kể rằng suốt thời cấp 2, cô hầu như không được ra khỏi nhà, chỉ có thể đi ra con đường nhỏ gần nhà. Đến khi lên cấp 3, cô mới được phép ra đường lộ lớn một chút. Câu chuyện này phản ánh một xu hướng đang nổi lên trong các gia đình nông thôn: sự kiểm soát chặt chẽ không gian di chuyển của con cái, đặc biệt là con gái.

Câu chuyện của Chi, một nữ sinh lớp 11 tại vùng nông thôn Kiên Giang, cung cấp một cửa sổ nhìn vào quá trình chuyển đổi phức tạp của chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa gia đình trong bối cảnh nông thôn Nam bộ.

Trường hợp của Chi minh họa rõ nét mà tôi gọi là “Quá trình cá nhân hóa nửa nạc nửa mỡ”. Một mặt, Chi thể hiện những khát vọng cá nhân rõ rệt là mong muốn học Tâm lý học tại Sài Gòn, bị thu hút bởi thông tin trên Facebook về ngành học này. Sự lựa chọn này phản ánh một ý thức cá nhân đang nảy sinh, được nuôi dưỡng bởi công nghệ số và mạng xã hội. Tuy nhiên, khát vọng này ngay lập tức đối mặt với kỳ vọng của gia đình khi mẹ của cô bé muốn cô bé học Sư phạm Mầm non “cho gần nhà.”

Sự căng thẳng này không chỉ đơn thuần là xung đột thế hệ, mà phản ánh một quá trình chuyển đổi cấu trúc sâu sắc hơn. Rõ ràng, chủ nghĩa cá nhân ở Việt Nam được thúc đẩy bởi các lực lượng hiện đại hóa (giáo dục, công nghệ, đô thị hóa) và vai trò rất lớn từ diễn ngôn hiện đại hóa từ phía Nhà nước nhưng bị giới hạn bởi các cấu trúc gia đình truyền thống và những lo ngại về rủi ro xã hội. Mà hiện nay việc bắt cóc qua Campuchia trở thành một vấn đề khá nóng ở xã hội, nhất là khu vực Kiên Giang là sát biên giới.

Lời kể của Chi: “Em bị nhốt ở nhà hoài từ hồi học cấp 2” đã tiết lộ một chiều kích quan trọng của chế độ gia đình đang nổi lên trong bối cảnh Việt Nam chính là sự kiểm soát chặt chẽ không gian di động của con cái. Nỗi sợ “bị bắt cóc” mà người mẹ thường xuyên nhắc đến phản ánh một xã hội Việt Nam đầy rủi ro trong mắt phụ huynh. Nếu ở phụ huynh thành thị thì điều này không có gì lạ, vì thành thị quá nhiều bất ổn. Nhưng ở nông thôn cũng đã xuất hiện những phụ huynh như vậy với nỗi sợ xã hội xung quanh đầy rủi ro. Nó rất khác với hoàn cảnh nông thôn cách đây gần 10 năm về trước, khi mà thế hệ trẻ em thời điểm đó không bị kiểm soát chặt chẽ bởi gia đình như thế này. Mặt khác, nông thôn ở Kiên Giang cũng trải qua quá trình đô thị hóa mạnh mẽ trong thời gian gần đây.

Trong bối cảnh nông thôn Tây Nam bộ, những rủi ro được cảm nhận này dẫn đến các thực hành bảo vệ cực đoan, hạn chế không gian tự chủ của thế hệ trẻ. Điều đáng chú ý là sự kiểm soát này không chỉ đơn thuần là biểu hiện của chủ nghĩa gia đình truyền thống, mà còn phản ánh một hình thức gia đình mới đang nổi lê, trong đó cha mẹ đầu tư mạnh mẽ vào sự an toàn và tương lai của con cái, nhưng theo những cách thức có thể hạn chế sự phát triển tự chủ của chúng. Điều nghịch lý mà tôi nói là “chủ nghĩa cá nhân nửa nạc nửa mỡ”, một mặt phụ huynh muốn đứa con họ tự chủ, độc lập và có thể kiếm được việc để không thất nghiệp trong tương lai. Nhưng mặt khác thì bao bọc đứa trẻ, gần như quyết định cho nó mọi lựa chọn quan trọng trong đơi nó.

Cuộc đối thoại về lựa chọn ngành học minh họa sự phức tạp của việc suy thoái gia đình truyền thống trong bối cảnh Việt Nam. Mặc dù mẹ Chi khẳng định “em thích học là cho em học” một biểu hiện bề ngoài của việc ủng hộ khát vọng cá nhân nhưng sự ưu tiên ban đầu cho ngành Sư phạm Mầm non “gần nhà” tiết lộ một logic sâu xa hơn. Đây không chỉ là vấn đề kinh tế hay thực tiễn, mà phản ánh một chiến lược gia đình nhằm duy trì sự gắn kết liên thế hệ và kiểm soát rủi ro. Sự lựa chọn giữa Tâm lý học ở Sài Gòn và Sư phạm Mầm non ở địa phương không chỉ là lựa chọn nghề nghiệp, mà còn là biểu tượng cho cuộc đấu tranh giữa tự chủ cá nhân và nghĩa vụ gia đình. Tâm lý học là một ngành mang tính cá nhân, hiện đại, đô thị - đối lập với Sư phạm Mầm non là một nghề truyền thống, mang tính chăm sóc, phù hợp với vai trò giới được kỳ vọng.

Việc Chi làm việc mùa hè tại quán cà phê của người họ hàng làm sáng tỏ một cơ chế kiểm soát không gian tinh vi vận hành thông qua mạng lưới họ hàng và các sắp xếp lao động. Trường hợp này minh họa cho cái mà tôi gọi là “lao động bảo vệ” như là một thực hành trong đó việc làm trở thành phương tiện duy trì sự giám sát trong khi tạo vẻ ngoài của sự độc lập. Quyết định của người mẹ đưa Chi đến quán cà phê của họ hàng, bề ngoài để ngăn việc sử dụng điện thoại nhàn rỗi ở nhà, tiết lộ một sự thương lượng phức tạp giữa những lo âu hiện đại về công nghệ số và những quan ngại truyền thống về sự di chuyển của phụ nữ trong không gian công cộng.

Sự sắp xếp này thể hiện một nghịch lý cơ bản trong chế độ gia đình hiện nay ở Viêt Nam. Trong khi việc đưa vào lao động có lương gợi ý sự công nhận tính hành thẻ cá nhân và sự tham gia kinh tế như những dấu hiệu của hiện đại hóa nhưng nó đồng thời củng cố sự kiểm soát phụ quyền thông qua các mạng lưới giám sát dựa trên họ hàng. Quán cà phê, nằm trên đường quốc lộ lớn nhưng do họ hàng vận hành, đại diện cho một không gian ngưỡng (liminality) nơi các lĩnh vực công và tư giao thoa, cho phép tiếp xúc có kiểm soát với thế giới bên ngoài trong khi duy trì sự giám sát của gia đình.

Câu chuyện của Chi về sự giam cầm không gian từ hạn chế hoàn toàn trong nhà ở thời cấp hai đến tiếp cận hạn chế với những con đường nhỏ trong khu phố, và cuối cùng là tiếp cận một phần với đường lộ lớn ở cấp ba đã tiết lộ cái có thể được khái niệm hóa như một hệ thống “tự chủ phân cấp.” Sự tiến triển này phản ánh cả các giai đoạn phát triển và nhận thức về tính dễ tổn thương theo giới.

Những cuộc gọi hàng ngày của người mẹ cảnh báo không được ra đường lộ lớn, mặc dù Chi đã ở một cơ sở ven đường, chứng minh sự bền bỉ của những lo âu không gian vượt qua sự gần gũi vật lý. Sự cảnh giác này gợi ý rằng nhận thức về rủi ro không chỉ đơn thuần về mối nguy hiểm thực tế mà về việc duy trì ranh giới biểu tượng giữa không gian gia đình được bảo vệ và lĩnh vực công cộng đe dọa. Đường quốc lộ nổi lên như một biểu tượng đặc biệt mạnh mẽ - đại diện cho cả cơ hội (kết nối với trung tâm đô thị, giáo dục, hiện đại) và nguy hiểm (giao thông, người lạ, sự tha hóa đạo đức).

Việc sử dụng các doanh nghiệp gia đình mở rộng như địa điểm cho việc làm của thanh niên tiết lộ cách các mạng lưới họ hàng hoạt động như cơ sở hạ tầng giám sát trong các cộng đồng nông thôn. Sự sắp xếp này cho phép cha mẹ mở rộng tầm giám sát của họ ra ngoài hộ gia đình trực tiếp trong khi duy trì vẻ ngoài của việc trao quyền độc lập. Quán cà phê của người họ hàng phục vụ như một phần mở rộng của không gian gia đình vào lĩnh vực thương mại, những không gian tồn tại giữa công và tư, công việc và nhà, tự chủ và kiểm soát. Trường hợp Việt Nam chứng minh cách các mạng lưới họ hàng ngang (anh chị em, anh em họ, gia đình mở rộng) được huy động để quản lý các rủi ro liên quan đến sự phát triển của thanh niên và di chuyển của phụ nữ.

Mối quan tâm của người mẹ về việc Chi “chỉ bấm điện thoại” ở nhà trình bày một mâu thuẫn hấp dẫn khi đặt cạnh tiết lộ trước đó của Chi về việc khám phá tâm lý học qua Facebook. Nghịch lý này làm sáng tỏ mối quan hệ phức tạp mà các gia đình nông thôn duy trì với công nghệ số - đồng thời nhận ra nó như một con đường đến kiến thức và cơ hội trong khi sợ hãi tiềm năng của nó gây xao nhãng hoặc tha hóa. Sự lưỡng lự này đối với công nghệ phản ánh những căng thẳng rộng lớn hơn trong quá trình hiện đại hóa ở nông thôn Việt Nam. Cha mẹ phải điều hướng giữa việc chuẩn bị cho con cái một tương lai số hóa và bảo vệ chúng khỏi những nguy hiểm số hóa được cảm nhận. Giải pháp là di dời vật lý đến môi trường làm việc được giám sát đại diện cho một nỗ lực quản lý những mâu thuẫn này thông qua phương tiện không gian, gợi ý rằng kiểm soát di chuyển vật lý vẫn là chiến lược chính để quản lý những bất định của thay đổi xã hội.