
Bài này thảo luận với một bài viết khác
Bài dưới đây đáp lại bài “Tái định hình thực hành điền dã: từ ‘vết nhơ’ lịch sử đến công cụ kết nối” của Gieo Collective. Để người đọc nắm được cả hai phía, toàn văn bài gốc được đăng kèm ở phần cuối trang, có ghi nguồn và đường dẫn.
Chúng tôi cũng là những người theo dõi dự án của các chuyên gia của Gieo Collective với cộng đồng địa phương liên quan kiến trúc, sinh thái. Bài viết của các bạn có một tinh thần tự vấn đáng quý, và chúng tôi muốn nói điều đó trước. Tuy nhiên, đọc kỹ, chúng tôi thấy khung phân tích của bài chủ yếu dựa trên di sản của lý thuyết hậu thuộc địa (postcolonial), và sau này là giải thuộc địa (decolonial), đặc biệt là cuộc tranh luận quanh cuốn Writing Culture của James Clifford và George E. Marcus (1986).
![]() | ![]() | ![]() |
|---|---|---|
| James Clifford | George E. Marcus | Writing Culture (1986) |
Cuốn sách ấy đánh dấu lúc nhân loại học phương Tây bắt đầu tự soi lại mình: dân tộc chí (ethnography) không phải là tấm gương phản ánh trung thực một thực tại “ở ngoài kia”, mà là một hình thức viết, có tính kiến tạo, gắn liền với vị thế quyền lực của người viết. Từ chỗ đó, nhiều lập luận hậu thuộc địa đi thêm một bước: điền dã mang “nhãn quan áp đặt” (colonial gaze), và có khi bị coi là gần như bất khả, hoặc chủ yếu là một hành vi chiếm đoạt. Bài của các bạn tái hiện khá rõ khung này, khi nói về “vết nhơ lịch sử” của thực địa và về nhu cầu “tái định hình” nó thành công cụ kết nối.
Chúng tôi không bác bỏ khung ấy. Chúng tôi chỉ muốn đặt câu hỏi: những lập luận của các bạn đúng tới đâu, và từ chỗ nào thì nó bắt đầu nói nhiều hơn điều chứng cứ cho phép?
Về luận điểm “thực địa mang di sản nhãn quan áp đặt”
Nếu chỉ nói về một số thực tiễn thời thuộc địa, và về sự thiếu phản tư của nhiều nhà nghiên cứu trước đây, thì luận điểm này không sai. Nhưng khi nó được dùng như đặc trưng bao trùm cả lịch sử của một phương pháp, thì nó đã đơn giản hóa vấn đề.
Sherry Ortner và “sự từ chối dân tộc chí”
Thử nghe một người cũng đứng trong cuộc tranh luận ấy. Nhà nhân loại học Sherry Ortner, trong bài “Resistance and the Problem of Ethnographic Refusal” (1995), thừa nhận các phê phán về Đông phương luận và về “khủng hoảng biểu đạt” (Said, Spivak, Clifford). Nhưng bà không chấp nhận kết luận rằng dân tộc chí vì thế trở nên bất khả hay tự bản chất là áp đặt. Trong tiểu luận, Ortner cho rằng người được viết về không phải là những đối tượng thụ động, chỉ ngồi im để người khác mô tả. Họ cũng “đẩy lại” vào chính văn bản được viết về mình, giống như cách họ đẩy lại trước các hình thức quyền lực chính trị trong đời sống thực.
![]() | ![]() | ![]() |
|---|---|---|
| Sherry Ortner | Edward Said | Gayatri Spivak |
Văn bản của nhà nghiên cứu có thể bóp méo, nhưng không thể bóp méo hoàn toàn. Nếu vì sợ bị quy là “áp đặt” mà nhà nghiên cứu từ chối viết thật chi tiết, thật dày về đời sống của nhóm người mình nghiên cứu, thì lại rơi vào một cái bẫy khác. Ortner gọi đó là “ethnographic refusal” (sự từ chối viết dân tộc chí). Hệ quả là chính trị nội bộ, văn hóa và khả năng hành động của chính nhóm người bị thống trị lại bị làm mỏng đi, bị đơn giản hóa, trong khi mục tiêu ban đầu của nhà nghiên cứu lại là muốn hiểu họ.
Jean-Pierre Olivier de Sardan và “kiến tạo có kiểm soát”

Jean-Pierre Olivier de Sardan
Jean-Pierre Olivier de Sardan (2008) thì đi xa hơn. Ông phê phán thẳng các lập trường hậu hiện đại, siêu kiến tạo, tương đối luận và “vô trị nhận thức luận”, những dòng tư tưởng có ảnh hưởng lớn đến nhiều luận điểm hậu thuộc địa trong nhân loại học sau Writing Culture. Theo ông, điền dã là kiến tạo tri thức, điều ấy không ai chối. Nhưng kiến tạo không có nghĩa là tùy tiện. Theo Olivier de Sardan, nó phải chịu ràng buộc của những phương pháp nghiên cứu thực nghiệm nghiêm ngặt, kết hợp giữa lập luận với dữ liệu, và giữa dữ liệu với cái thực tại mà nó quy chiếu tới. Không phải từ bỏ mọi khả năng hiểu biết, mà là kiến tạo có kiểm soát.
Điền dã là gì, nếu không phải là thu thập rồi rút về?
Câu hỏi này nên đặt ra, vì phê phán “nhãn quan áp đặt” thường ngầm giả định một hình ảnh điền dã rất nghèo nàn: nhà nghiên cứu đến, lấy dữ liệu, rồi mang về nơi khác để diễn giải. Chúng tôi không hình dung điền dã như vậy, mà cũng không coi nó là không gian thuần túy của sự áp đặt. Chúng tôi cho rằng nhà nghiên cứu khi thực hành điền dã phải nhận thức được việc “bám rễ vào thực địa”, chú trọng vào quan hệ giữa dữ liệu được sản xuất trên thực địa và các diễn giải học thuật (Olivier de Sardan, 2008, tr. 19–20).
Đối tượng nghiên cứu được kiến tạo ngay tại chỗ, qua tương tác, qua những lần ngạc nhiên và những lần điều chỉnh. Điền dã là quá trình tái kiến tạo tri thức với cộng đồng địa phương mỗi ngày; mọi tri thức mà nhà nhân loại học thu thập tại địa phương luôn mang tính tạm thời, và luôn biến đổi trong sự thay đổi của bối cảnh cộng đồng. Những dữ liệu mà nhà nghiên cứu ghi chép được hôm nay có thể thay đổi sau một năm hay vài năm. Vì thế nhà nghiên cứu phải tập làm quen với những logic khác với logic của thế giới mình, và chấp nhận logic đó có tính bất định, thay đổi liên tục (Olivier de Sardan, 2008, tr. 102).
Chúng tôi hiểu rằng Gieo Collective muốn hướng đến một cách tiếp cận giải thuộc địa tri thức, tránh sự áp đặt của quyền lực của kiến trúc sư, nhà thiết kế, quy hoạch. Vậy giải thuộc địa tri thức ở đây là gì? Không phải chối bỏ lý thuyết phương Tây, cũng không phải từ chối tiếp nhận nó, mà là dùng phương pháp thực nghiệm để vượt qua nó: nhà nghiên cứu đi vào bối cảnh địa phương cụ thể, sản xuất dữ liệu ở đó, rồi đem dữ liệu ấy đối thoại với các khung lý thuyết, kiểm chứng hoặc điều chỉnh chúng.
Về giải thuộc địa ở Nam bán cầu: chuyện trong đầu hay điều kiện vật chất?
Có một điều mà chúng tôi thấy có vấn đề. Khi các bạn thực hành điền dã và đọc các sách lý thuyết phương Tây, các sách đó phản ánh một vấn đề: các nhà lý thuyết giải thuộc địa dồn quá nhiều sức vào một cuộc chiến nhận thức luận mang màu ý thức hệ, hướng về quá khứ, trong khi những giới hạn rất cụ thể của nghiên cứu khoa học xã hội ở phương Nam, nhất là ở những quốc gia như Việt Nam, lại ít được bàn đến. Đó là thiếu nguồn lực tiền bạc, khó tiếp cận tư liệu, hạ tầng yếu, dữ liệu bị kiểm định nhiều lớp bởi nhiều thiết chế, sự lệ thuộc vào các quỹ của phương Tây, và việc phương Tây áp đặt chương trình nghị sự của họ đối với cộng đồng địa phương một cách gián tiếp, thông qua các nhà nghiên cứu hay nhà thiết kế dùng tiền của phương Tây để làm việc với cộng đồng (Olivier de Sardan, 2025). Đó cũng chính là điều các bạn gọi là “nguy cơ ‘làm màu’ văn hóa”.
Chúng ta không chỉ phải “giải thuộc địa” cái ý thức hệ phương Tây trong đầu mình. Chúng ta còn phải xoay xở với những ràng buộc vật chất và thể chế rất cụ thể, mà không lý thuyết nào gỡ được thay chúng ta.
Nếu chỉ chăm chú vào “nhãn quan áp đặt” của điền dã mà không thấy những ràng buộc này, phê phán dễ trở thành một nghi thức đạo đức hơn là một phân tích thực tiễn. Nghi thức thì làm cho người làm nó yên lòng, nhưng không cho ta biết thêm điều gì.
Điền dã ở Việt Nam: thử và sai trong các “vùng xám”
Trong bối cảnh điền dã ở Việt Nam, cần chú ý tới các “vùng xám” của thiết chế tại địa phương: những không gian mà quy định chính thức và cách vận hành thực tế không trùng nhau, luôn phải thương lượng và ứng biến (Emmanuel Pannier và Nicolas Lainez, 2024). Kinh nghiệm điền dã dài hạn của chúng tôi, ít thì ăn, ở, làm với cộng đồng một tháng, trung bình nửa năm, một năm, và hiện nay là năm năm. Chúng tôi đồng ý với quan điểm của hai nhà nhân loại học người Pháp là Emmanuel Pannier và Nicolas Lainez: điền dã ở Việt Nam là một quá trình thử và sai, phụ thuộc vào mạng lưới, vào quan hệ cá nhân, và vào khả năng thích nghi với các thiết chế tại mỗi địa phương vốn không hề giống nhau. Điều quan trọng mà chúng tôi nghĩ là khi thực hành điền dã ở Việt Nam, chúng ta phải cố gắng thích nghi và vượt qua những điều này.
Kết luận
Thừa nhận di sản gây tranh cãi của điền dã là cần thiết. Nhưng biến di sản ấy thành một câu chuyện một chiều, từ “vết nhơ” đến “giải phóng”, thì vừa bỏ qua sự phức tạp lịch sử của phương pháp, vừa bỏ qua những ràng buộc thực tiễn của người làm nghiên cứu hôm nay. Điền dã không phải là đối tượng cần được “tái định hình” cho đúng một ý thức hệ. Nó là một cách kiến tạo tri thức có kiểm soát thực nghiệm, một cách để đem dữ liệu địa phương ra đối thoại với lý thuyết, phương Tây hay không phương Tây.
Tài liệu tham khảo
- Clifford, J., & Marcus, G. E. (Eds.). (1986). Writing culture: The poetics and politics of ethnography. University of California Press.
- Lainez, N., & Pannier, E. (2024). Trial-and-error: Securing field access for qualitative research in Vietnam. The Australian Journal of Anthropology.
- Olivier de Sardan, J.-P. (2008). La rigueur du qualitatif: Les contraintes empiriques de l’interprétation socio-anthropologique. Academia-Bruylant.
- Olivier de Sardan, J.-P. (2025). Les études décoloniales face à la raison empirique: L’obsession épistémologique. L’Homme, 255–256, 191–238.
- Ortner, S. B. (1995). Resistance and the problem of ethnographic refusal. Comparative Studies in Society and History, 37(1), 173–193.
Bài đăng lần đầu trên fanpage kulavietnam.
Bài được thảo luận: toàn văn bài của Gieo Collective
Nguồn bài gốc
Tác giả: Gieo Collective. Đăng trên Facebook, khoảng ngày 18/10/2026. Đọc bài gốc trên Facebook. Bài được đăng lại nguyên văn nhằm phục vụ thảo luận; mọi quyền thuộc về tác giả. Một số thuật ngữ được chú thích trong ngoặc vuông.

Tái định hình thực hành điền dã: từ “vết nhơ” lịch sử đến công cụ kết nối
Bắt đầu từ một câu hỏi chúng mình nhận được khi cân nhắc đăng ký chương trình Monsoon School #2 (Field as Method – Decentralized/Decentering…):
“Làm thế nào để thực hành điền dã (fieldwork) một cách có ý nghĩa, khi phương pháp này từng mang một lịch sử đầy tranh cãi, gắn liền với quyền lực và sự áp đặt góc nhìn từ trên xuống trong khoa học xã hội, nhưng lại đang được các nghệ sĩ và nhà thực hành văn hóa tại Đông Nam Á ứng dụng ngày càng nhiều?”
Câu hỏi ấy khiến chúng mình trăn trở thật lâu trước khi nghĩ sẽ làm gì tiếp. Với tư cách là những người trẻ thực hành cảnh quan thường xuyên tổ chức các chuyến field trip gắn liền với cộng đồng, chúng mình phải dừng lại, tự soi chiếu xem hoạt động điền dã đã và đang tác động ra sao tới quá khứ, hiện tại và tương lai, rồi tạm đúc kết lại như sau.
1. Thừa nhận cái “vết nhơ” lịch sử để tự giải phóng (Deconstructing the Colonial Gaze)
Lịch sử của nhân loại học và khoa học xã hội thuộc địa là điều không thể che đậy: điền dã từng mang tính chiếm đoạt (extractivist). Nhà nghiên cứu từ đô thị hoặc phương Tây đến như những kẻ quan sát cấp cao, xem cộng đồng bản địa là “đối tượng nghiên cứu” thụ động, thu thập dữ liệu rồi rời đi. Trong tác phẩm kinh điển Seeing Like a State, James C. Scott đã chỉ trích mạnh mẽ cách các nhà quản lý áp đặt từ trên xuống (top-down) mà hoàn toàn phớt lờ tri thức thực hành của địa phương.
![]() | ![]() | ![]() | ![]() |
|---|---|---|---|
| James C. Scott | Seeing Like a State (1998) | Clifford Geertz | The Interpretation of Cultures (1973) |
Muốn thực hành điền dã có ý nghĩa hôm nay, bước đầu tiên là phải giải cấu trúc nhãn quan đó. Clifford Geertz với khái niệm “miêu tả dày” (thick description) đã đặt nền móng cho việc thấu hiểu văn hóa từ bên trong thay vì phán xét từ bên ngoài. Điền dã hiện đại không còn là câu chuyện “nghiên cứu về ai đó” (researching on), mà cần sự chuyển dịch thành “cùng làm việc với ai đó” (working with/alongside). Sự dấn thân, ăn ở và lắng nghe chính là cách chúng ta sẻ chia một phần “quyền lực” lẫn tri thức với người dân bản địa.
2. Sự giao thoa giữa khoa học xã hội và thực hành nghệ thuật, không gian
Khi bước vào không gian thực hành của nghệ sĩ và kiến trúc sư, điền dã không tìm kiếm những con số thống kê khô khan, mà đi tìm những “tầng ký ức sống” (living memories) và “nhịp điệu nơi chốn” (genius loci). Đó là một hình thức khảo cổ học không gian.

Henri Lefebvre
Dựa trên lý thuyết “Quyền đối với thành phố” (The Right to the City) của Henri Lefebvre, không gian sống phải được định hình bởi chính những người sinh sống ở đó. Nghiên cứu nghệ thuật (Artistic Research) xem quá trình cắm trại thực địa, mở workshop, vẽ sơ đồ dòng chảy hay chèo thuyền trên sông là những phương pháp thu thập tri thức hoàn toàn hợp lệ. Chất liệu nghệ thuật lúc này trở thành chất xúc tác để cộng đồng tự kể câu chuyện của mình, biến điền dã thành một hành động gắn kết và kiến tạo lại không gian (regenerative practice).
3. Đặt vào bối cảnh đặc thù Đông Nam Á: từ bài học lịch sử đến những phản ứng sinh tồn đương đại
Tại Đông Nam Á, điền dã không phải là lý thuyết suông trên trang sách, mà là một phản ứng sinh tồn trực diện trước xung đột giữa hiện đại hóa và lịch sử.
Bài học phức hợp từ lịch sử trong trường hợp bác sĩ Alexandre Yersin tại Việt Nam. Năm 1891, khi rời bỏ vị trí tại Viện Pasteur Paris để bước xuống tàu làm bác sĩ hàng hải, Yersin đã chọn thực địa như một phương thức sinh tồn khoa học. Dù các chuyến đi của ông không tách rời bối cảnh mở đường của chính quyền thời đó, lối thực hành của Yersin lại để lại những bài học trăn trở về sự dấn thân không ranh giới.

Alexandre Yersin
- Đối thoại với tri thức bản địa: ông học tiếng dân tộc, ghi chép tỉ mỉ về thực vật, thời tiết và kinh nghiệm chữa bệnh của người bản địa để sinh tồn giữa rừng thiêng nước độc.
- Y học dấn thân: việc phát hiện ra trực khuẩn dịch hạch hay thử nghiệm trồng cây Cinchona (chiết xuất quinine trị sốt rét) không ra đời từ phòng thí nghiệm cô lập, mà từ chính đòi hỏi cấp bách của thực địa, nơi dịch bệnh đe dọa sự sống mỗi ngày.
- Cam kết gắn bó: việc ông chọn sống giản dị và chia sẻ tri thức y tế với ngư dân xóm chài Nha Trang là minh chứng cho việc điền dã không dừng lại ở thu thập thông tin, mà có thể trở thành một cam kết sống bền vững cùng cộng đồng.
Những thực hành đương đại tại Đông Nam Á. Dọc theo sông ngòi Bangkok (Thái Lan): trước nguy cơ các khu dân cư ven sông Chao Phraya bị xóa sổ bởi dự án thương mại, các nhóm nghệ sĩ và thiết kế đô thị đã thực hiện các chuyến đi bộ nghệ thuật (artistic walk), sống cùng cư dân và triển lãm tại chỗ như một hình thức phản kháng văn hóa.
Tuy nhiên, bài toán điền dã luôn đi kèm những điểm mù cần liên tục tự soi chiếu:
- Nguy cơ “làm màu” văn hóa (ethno-tourism / artwashing): liệu các hoạt động như artistic walk hay workshop ngắn ngày có vô tình biến cộng đồng thành “đạo cụ” cho các dự án thẩm mỹ của người đô thị? Sự dấn thân đó có dài hạn hay chỉ mang tính “cưỡi ngựa xem hoa” (hit-and-run fieldwork)?
- Xung đột quyền lực mới: ai là người đại diện phát ngôn cho cộng đồng? Tiếng nói của nhóm yếu thế nhất có thực sự được lắng nghe, hay lại bị san phẳng bởi cái nhìn lãng mạn hóa của người làm nghệ thuật?
Tạm kết
Thực địa từng mang một di sản đầy tranh cãi gắn liền với nhãn quan áp đặt. Nhưng tại Đông Nam Á, các thực tiễn đương đại đang nỗ lực tái định hình triệt để phương pháp này. Từ trải nghiệm thực tế của chính Gieo Collective tại vùng đệm sông Thu Bồn (Cẩm Kim), khi nhìn nhận lại chúng mình cũng phải tự đối mặt với những câu hỏi trăn trở nhất: liệu hoạt động Flood STEAM hay các mô hình nổi thí điểm của nhóm có vô tình mang tính áp đặt từ đô thị về không? Liệu việc chúng mình đến rồi đi có để lại gánh nặng nào cho người dân bản địa không?
Chính việc tự vấn những hạn chế của bản thân và thừa nhận sự bất đối xứng về vị thế giúp chúng mình bước chân vào cộng đồng với một thái độ khác: không phải là kẻ ban phát giải pháp, mà là những người “học trò” kiên nhẫn cùng cộng đồng. Bằng cách lắng nghe kinh nghiệm của thế hệ đi trước, đọc hiểu vi khí hậu và lựa chọn đồng sáng tạo thay vì áp đặt, chúng mình mới có thể chuyển thực địa từ một lăng kính quan sát đơn thuần thành hành động chung hướng tới sự sinh tồn văn hóa, khả năng thích ứng và tạo ra những kết nối trong tương lai.
Tài liệu tham khảo của bài gốc
- Scott, J. C. (1998). Seeing Like a State: How Certain Schemes to Improve the Human Condition Have Failed. Yale University Press.
- Geertz, C. (1973). The Interpretation of Cultures. Basic Books.
- Lefebvre, H. (1996). Writings on Cities (Translated and edited by Eleonore Kofman and Elizabeth Lebas). Blackwell.
Bài viết dựa trên các thông tin tổng hợp, trên tinh thần cầu thị và nhận ý kiến chia sẻ, đóng góp.
Nguồn ảnh
Ảnh chân dung lấy từ Wikimedia Commons: James Clifford (CC0), George E. Marcus (Paola Vela, CC BY-SA 4.0), Sherry Ortner (William Archie / Detroit Free Press, 1979, phạm vi công cộng), Jean-Pierre Olivier de Sardan (CC BY-SA 4.0), Edward Said (Barenboim-Said Akademie, CC0), Gayatri Spivak (Robert Crc, Free Art License), James C. Scott (SOAS University of London, CC BY 3.0), Clifford Geertz (ảnh bìa gập sách, phạm vi công cộng), Henri Lefebvre (Bert Verhoeff / Anefo, CC BY-SA 3.0 nl), Alexandre Yersin (Deschiens / Rives, Licence Ouverte). Ảnh bìa sách thuộc bản quyền nhà xuất bản, dùng để minh họa. Hình đầu bài và hình trong phần bài gốc lấy từ các bài đăng Facebook tương ứng.









