Trong hơn năm mươi năm trở lại, các bộ phim Ấn Độ đã dần trở thành một phần quan trọng trong văn hóa đại chúng ở phía Bắc Nigeria - nơi sinh sống của người Hausa. Người Hausa sinh sống ở phía Bắc Nigeria, trong khi người Yorubas sống ở phía Tây và người Igbosb sống khu vực Đông Nigeria (Orugun, & Nafiu, 2014). Họ là một trong những dân tộc bản địa đông nhất và có ảnh hưởng lớn nhất ở Châu Phi, và do đó ngôn ngữ của họ - tiếng Hausa được sử dụng bởi khoảng 50 triệu người và được coi là ngôn ngữ chung ở Tây Phi (Coles, & Mack, 1991).
Giao tiếp là nền tảng của cuộc sống con người, khi cá nhân và xã hội xuất hiện trong sự tương tác với những sự vật, sự việc khác xung quanh họ, thì phim Ấn Độ đã tham gia vào cấu trúc đối thoại của văn hóa đại chúng Hausa bằng cách mang đến cho người Hausa một thế giới thay thế (alternative world). Đó là một thế giới tương tự như của thế giới của chính họ, nhưng ở thế giới đó họ có thể tưởng tượng ra các biểu hiện khác của thời trang, sắc đẹp, tình yêu, sự lãng mạn, và cả chủ nghĩa thuộc địa và hậu thuộc địa.
Sự phổ biến của phim Ấn Độ ở Nigeria làm nổi bật sự lưu chuyển của các phương tiện truyền thông trong và giữa các quốc gia phi phương Tây (thế giới thứ ba). Đó là một khía cạnh của dòng chảy văn hóa xuyên quốc gia nhưng đã gần như bị bỏ qua trong các bài nghiên cứu về toàn cầu hóa gần đây. Khi nói về lĩnh vực truyền thông của Nigeria, các học giả thường chỉ quan tâm đến sự chiếm dụng văn hóa (mà đại diện là Hollywood) và họ chỉ xem xét Nigeria trong mối quan hệ của nó với phương Tây. Cuối cùng, họ lại vô tình tái khẳng định sự chiếm dụng văn hoá cùng lúc chỉ trích quan điểm lấy phương Tây làm trung tâm. Vì vậy, tác giả đã đề ra thuật ngữ “hiện đại song song” - sự cùng tồn tại trong không gian và thời gian của nhiều dòng chảy kinh tế, tôn giáo và văn hóa, thường được gộp chung trong thuật ngữ “tính hiện đại”. Tính “hiện đại” trên được nói là “song song” để con người bước ra khỏi suy nghĩ mang tính nhị nguyên mà trong đó chỉ có hiện đại - truyền thống, phương Tây - phi phương Tây, sự thống trị - sự kháng cự.
Trong nghiên cứu của Brian Larkin thì ý định của ông không phải là hạ thấp tầm quan trọng của cuộc đấu tranh văn hóa của người Nigeria hay giảm thiểu quyền bá chủ của văn hóa phương Tây, mà ông muốn nhấn mạnh rằng đây chỉ là một phần trong thực tế văn hóa của nhiều quốc gia châu Phi. Vì vậy mà ta có thể nói phim Ấn Độ đã mang đến cho người Hausa những hình ảnh về sự hiện đại song song với phương Tây vì tuy dựa trên những thay đổi cơ bản của đời sống xã hội mà vẫn giữ lại được các giá trị văn hóa. Đồng thời, phim Ấn Độ đã tạo ra sự cân bằng tinh tế giữa “truyền thống” của Nigeria và “hiện đại” của phương Tây, mang đến một trạng thái cân bằng cho người Hausa thời hậu thuộc địa mà từ đó họ có thể suy ngẫm và xem xét bản chất của sự thay đổi xã hội đương đại.
Có hai lý do cho sự thất bại của phim kiểu phương Tây tại thị trường phim ảnh phía Bắc Nigeria: một là nền kinh tế - chính trị của Mỹ, và hai là sự tương đồng về văn hóa và tình trạng hậu thuộc địa giữa Ấn Độ và Nigeria. Trong lý do kinh tế - chính trị, chi phí sản xuất của Mỹ quá cao nên không thể xâm nhập vào văn hóa Nigeria. Khi đó, phim Ấn Độ với chi phí sản xuất rẻ hơn đã khiến cho việc chiếm lĩnh thị trường trở nên dễ dàng. Tuy nhiên, lý do thứ hai mới được cho là lý do chính yếu. Trong một cuộc phỏng vấn với Michel Issa, giám đốc của Cinema Distribution Circuit, công ty sở hữu các rạp chiếu phim trên khắp miền Bắc Nigeria, Issa lập luận rằng phim Ấn Độ nổi tiếng vì văn hóa của họ “giống” với văn hóa của người Hausa (Interview, Michel G. Issa, Manager, Cinema Distribution Circuit, May 1995). Đồng thời họ cũng ở trong tình trạng hậu thuộc địa giống nhau khi cùng đứng trong nan đề về việc lựa chọn quần áo truyền thống bản địa hay quần áo theo kiểu phương Tây, sử dụng tiếng Anh theo cách của tầng lớp thượng lưu hay theo cách của quan chức cấp cao; và cả việc chịu đựng sự tham nhũng của nhà nước hậu thuộc địa. Ở đây, cũng cần phải bàn về khả năng làm phim “kiểu Tây” của những nhà làm phim Ấn Độ. Những bộ phim của Ấn Độ thường được làm theo kiểu Masala - trong một bộ phim nhưng bao gồm rất nhiều thể loại khác nhau, trải dài từ lãng mạn, hài kịch, nhạc kịch sang tâm lý, bi kịch, hành động. Đây cũng chính là lý do mà học giả phương Tây và Ấn Độ đánh giá thấp khả năng làm phim của những nhà làm phim Ấn Độ.
Cho dù vậy, những nhà làm phim Ấn Độ đã thành công trong việc tạo ra những bộ phim vượt ra khỏi ranh giới về văn hóa và ngôn ngữ. Vì lời thoại trong phim Ấn Độ là tiếng Hindi nên trong rạp chiếu phim, những bộ phim Ấn Độ đã được phụ đề tiếng Anh. Tuy nhiên, khi trở về với màn ảnh nhỏ của gia đình thì đa số phim Ấn Độ không có phụ đề. Điều này có nghĩa là rất nhiều người Hausa đã xem phim bằng thứ tiếng mà họ hoàn toàn không hiểu. Nhưng một thời gian sau, một số người (trong nhiều gia đình) đã khẳng định rằng họ có thể hiểu tiếng Hindi. Nhưng thực tế, sự “hiểu” này được định hình bởi nhiều thứ hơn họ nghĩ. Tiếng Hindi, hay phim Ấn Độ đã dễ truyền tải hơn vì những sự lặp lại đến quen thuộc trong bối cảnh, kịch bản, trang phục, diễn viên đã dần khiến người Hausa “hiểu” được một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của họ, và thậm chí là hiểu được một nền văn hóa mà họ chưa từng có một trải nghiệm thực tế nào.
Khi thể loại truyện ngôn tình là Soyayya xuất hiện kèm với bối cảnh tình yêu - lãng mạn đã thể hiện khát khao khám phá những giới hạn của chuẩn mực xã hội trong một thời đại mà tất cả đều thay đổi một cách nhanh chóng. Sự tranh cãi giữa hôn nhân sắp đặt và hôn nhân vì tình yêu đã xuất hiện từ lâu. Tuy nhiên, những thay đổi của xã hội đương thời đã làm nảy sinh những vấn đề mới như tình yêu, hôn nhân, tình dục và cả nhu cầu vật chất trong hôn nhân, từ đó làm đọng lại nỗi lo sợ trước tốc độ thay đổi của xã hội. Phim Ấn Độ cùng với Soyayya đã trở thành một đối tượng trong sự tranh cãi của công chúng khi nội dung của chúng xoay quanh những vấn đề trên.
Diễn ngôn của những tác giả Soyayya xoay quanh việc chỉ trích những vấn đề như hôn nhân sắp đặt và nhu cầu vật chất. Một trong những lập luận của họ chính là nếu người con gái không được gả cho người mà họ yêu, họ sẽ thoát ra khỏi sự kiểm soát của cha mẹ và trở thành “phụ nữ độc lập” (và từ đó trở thành gái mại dâm), hoặc là có ý định tự tử, hoặc sẽ trải qua một cuộc hôn nhân không hạnh phúc và kết cục sẽ là ly hôn, ngay cả khi được gả vào hào môn. Bởi vì đọc những cuốn sách như vậy, không có cô gái nào muốn nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ, và đồng thời cha mẹ cũng hiểu rằng nếu họ ép con gái của họ kết hôn với một đối tượng được chỉ định sẵn thì cô ấy sẽ rời đi và cuối cùng trở thành gái mại dâm.
Sách Soyayya cũng tạo ra một thế giới không tưởng, nơi các chuẩn mực về các mối quan hệ tình cảm bị đảo ngược và biến đổi. Ở xã hội Hausa, sự tương tác giữa hai giới rất hạn chế. Đối với họ, “tình yêu” và “sự lãng mạn” là những khái niệm rất “phương Tây” và không có ý nghĩa. Đàn ông và phụ nữ sống ở những thế giới hoàn toàn tách biệt với nhau, không chia sẻ suy nghĩ cũng như cuộc sống của mình, và hành động một cách độc lập (Callaway, 1987). Những chàng trai và cô gái trẻ được kỳ vọng sẽ ứng xử theo kiểu “kunya” - đầy sự khiêm nhường và ngại ngùng. Đồng thời, những cuộc gặp gỡ giữa những đứa trẻ khác giới sẽ được những người lớn tuổi hơn kiểm soát. Trái ngược với quan hệ tình cảm kiểu Hausa, đàn ông và phụ nữ trong Soyayya không chỉ chia sẻ không gian xã hội với nhau mà còn dành thời gian giải trí cùng nhau và có đời sống tình cảm “chung”. Hai mươi năm trở lại, dưới ảnh hưởng của Soyayya, những cặp đôi không còn lưỡng lự khi tương tác với nhau. Thay vào đó, họ có những tuyên ngôn tình yêu và thể hiện cảm xúc của mình một cách công phu. Nhìn chung, họ đã tương tác với nhau theo cách mà nếu trở lại hai mươi năm trước đó thì có lẽ là khó chấp nhận được.
Tuy nhiên, việc xem Soyayya đã tạo ra cho độc giả và người xem những kỳ vọng không có khả năng đáp ứng. Ví dụ, một người đàn ông Hausa muốn vợ mình chủ động thể hiện tình cảm với mình, nhưng người vợ lại quay đi mỗi khi người chồng muốn nói chuyện. Nguyên nhân là vì cô ấy đã sống quá lâu trong một nền văn hóa mà cô ấy được dạy rằng chồng là tất cả và cô ấy phải khiêm nhường - tất cả để trở thành một người vợ tốt. Vì vậy, để có thể biến cuộc đời mình thành phim, đòi hỏi con người phải thay đổi cả cách sống và cách suy nghĩ - những điều không thể thực hiện ngay lập tức. Những kỳ vọng, cộng hưởng với sự đối lập trong tưởng tượng và thực tế đã làm rõ cách thức mà truyền thông xuyên quốc gia đã tích hợp những tưởng tượng vào trải nghiệm cá nhân và cách nó ảnh hưởng đến các cấu trúc xã hội.
Các phân tích về các tác phẩm Soyayya và phim Ấn Độ đã mang lại cái nhìn sâu sắc về quá trình tái lập và bản địa hóa các luồng truyền thông xuyên quốc gia diễn ra trong và giữa các nước thuộc thế giới thứ ba, phá vỡ tư tưởng nhị nguyên giữa truyền thống và hiện đại, giữa Châu Phi và phương Tây, và giữa phản kháng và thống trị. Phim Ấn Độ, nhìn chung, đã thu hút lượng lớn người xem vì nó hàm chứa với những mong muốn và xung đột đã và đang diễn ra trong những cộng đồng ở châu Phi. Nhờ truyền thống và “văn hóa”, phim Ấn Độ đã tạo ra một không gian mà phần lớn tránh được sự chỉ trích về mặt chiếm dụng văn hóa. Những hình ảnh về tính hiện đại mà những bộ phim Ấn Độ đưa ra vẫn nằm trong sự tương quan với bản sắc văn hóa và do đó, tính “truyền thống” vận hành song song nhưng độc lập với tính “hiện đại” do phương Tây mang lại.
Tài liệu tham khảo:
Coles, C. M., & Mack, B. (Eds.). (1991). Hausa women in the twentieth century. University of Wisconsin Press.
Callaway, B. 1987. Muslim Hausa Women in Nigeria: tradition and change. New York: Syracuse University Press.
Larkin, B. (1997). Indian Films and Nigerian Lovers: Media and the Creation of Parallel Modernities. Africa: Journal of the International African Institute, 67(3), 406–440. https://doi.org/10.2307/1161182
Orugun, J. J., & Nafiu, A. T. (2014). An exploratory study of Igbo entrepreneurial activity and business success in Nigeria as the panacea for economic growth and development. International Journal of Scientific and Technology Research, 3(9).