[LẠM DỤNG KHÁI NIỆM “PHỨC CẢM CỨU RỖI” TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM (TRƯỜNG HỢP TỪ TÀI KHOẢN FB THANH HẠ)]

Sáng hôm nay, chúng tôi ngồi cà phê với nhau thì mới biết rõ câu chuyện liên quan chiến dịch marketing của thương hiệu sữa là từ tài khoản facebook Thanh Hạ. Bài viết trên tài khoản hiện nay đã ẩn đi. Nhưng nội dung bài đó có thể tóm gọn như sau là bạn Thanh Hạ nói rằng thương hiệu sữa kia đang lợi dụng “phức cảm cứu rỗi” của người Kinh trong việc giúp đỡ nhóm tộc người thiểu số tại vùng cao để quảng bá thương hiệu cho doanh nghiệp đó.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn đưa ra một phê phán việc sử dụng khái niệm “phức cảm cứu rỗi” trong bối cảnh Việt Nam đang bị lạm dụng vì không đặt vào bối cảnh văn hóa cụ thể hay bỏ qua các động lực kinh tế - chính trị trong bối cảnh Việt Nam. Vì việc sử dụng khái niệm “phức cảm cứu rỗi” vô thưởng vô phạt có thể gây ra chia rẻ giữa những nhóm đa số và thiểu số, trong khi, quan điểm của chúng tôi là các dự án liên quan phát triển phải hướng tới tính bền vững và huy động nguồn lực của toàn cộng đồng. Đồng thời, bài viết cũng đưa ra một góc nhìn mang tính gợi ý cho các doanh nghiệp hướng tới trách nhiệm xã hội, nhất là trong bối cảnh các cộng đồng bản địa/thiểu số tại vùng cao Việt Nam.

NGUỒN GỐC KHÁI NIỆM “PHỨC CẢM CỨU RỖI”:

Khái niệm “phức cảm cứu rỗi” (savior complex) nằm trong quá trình lịch sử của sự phát triển lý thuyết Giải thuộc địa ở Hoa Kỳ, đại diện chính cho những người đặt nền móng của lý thuyết đó có thể kể đến các học giả như Edward Said (2014) nói về các quốc gia ở phương Đông dưới con mắt của phương Tây là như một thực thể thụ động, lạc hậu, cần được “cứu vớt” bởi người phương Tây. Said lập luận rằng điều này phục vụ cho việc biện minh cho chủ nghĩa thực dân và sự thống trị của phương Tây, đồng thời phủ nhận năng lực hành động và tiếng nói của người dân bản địa. Ngoài ra, học giả Gayatri Spivak trong bài tiểu luận nổi tiếng “Can the Subaltern Speak?” (1988), chỉ trích cách các nhà vị nữ phương Tây và hậu thực dân phương Tây đôi khi tìm cách “đại diện” cho phụ nữ ở các nước thuộc địa mà không thực sự lắng nghe tiếng nói của chính những phụ nữ này. Spivak lập luận rằng điều này vô tình tái tạo các cấu trúc quyền lực thực dân, trong đó chủ thể thực dân (người phương Tây) được coi là tác nhân giải phóng cho đối tượng bị trị (người bản địa). Mặc dù Spivak và Said không sử dụng cụm từ “phưc cảm cứu rỗi”, những ý tưởng của họ về cách các chủ thể thực dân/phương Tây tự nhận vai trò “giải cứu” cho các đối tượng bị trị/phương Đông đã góp phần quan trọng vào việc phê phán tư tưởng này. Các tác phẩm của họ đã truyền cảm hứng cho nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động phê phán chủ nghĩa thực dân và bất bình đẳng sắc tộc về sau.

Thuật ngữ “phức cảm cứu rỗi” được nhắc đến lần đầu tiên một cách rõ ràng bởi Teju Cole, một nhà văn và nhiếp ảnh gia người Mỹ gốc Nigeria, trong bài viết “The White Savior Industrial Complex” đăng trên tạp chí The Atlantic vào năm 2012. Trong bài viết này, Cole mô tả “white savior complex” (phức cảm cứu rỗi của người da trắng) như một tư tưởng phổ biến trong đó người da trắng, đặc biệt là từ Mỹ và châu Âu, tìm đến châu Phi với ý tưởng rằng họ có thể trở thành “những vị cứu tinh thần thánh” cho người dân ở đó. Ông chỉ trích quan điểm này vì nó phản ánh sự thiếu hiểu biết về bối cảnh lịch sử, chính trị, xã hội phức tạp của châu Phi và củng cố các định kiến và bất bình đẳng.

Dù khái niệm “phức cảm cứu rỗi” bắt nguồn từ ai đi nữa thì nó đến từ các học giả thuộc nhóm thiểu số ở Hoa Kỳ (Said người Palestine, Spivak người Ấn Độ và Teju Cole người Nigeria) nhắm đến phê bình người Da trắng trong quá trình hậu thuộc địa khi can thiệp vào các nước hậu thuộc địa bằng các chính sách phát triển nhưng bỏ qua vai trò văn hóa bản địa trong việc phát triển đó.

NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ MẶT PHƯƠNG PHÁP KHI TIẾP CẬN “PHỨC CẢM CỨU RỖI”

Việc các công ty sữa và thực phẩm thực hiện nhiều chiến dịch marketing cung cấp sữa và thực phẩm cho trẻ em vùng cao đã diễn ra hơn chục năm nay. Nhưng tại sao một bài viết ngắn gọn của Thanh Hạ chỉ vài dòng có thể viral lên như vậy? Chúng tôi đặt giả thuyết là trong bối cảnh hiện nay do ảnh hưởng chính trị bản sắc và phong trào thức tỉnh (wokism) của Hoa Kỳ, vì thế câu chuyện liên quan đến bản sắc tộc người, bản sắc của nhóm thiểu số, yếu thế hay nhóm đa số được nhiều người trẻ quan tâm nhiều hơn và lật ngược lại vấn đề. Nhưng quá trình hiện đại hóa và phát triển ở Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử cực kỳ phức tạp, bản sắc của các nhóm thay đổi liên tục chứ không hề cố định. Điều này dẫn đến việc chúng ta thử tự phản tư rằng bản sắc của nhóm đa số có phải là biệt lập hay là kết nối với các nhóm khác?

Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi nghĩ rằng phải phê phán việc sử dụng khái niệm “phức cảm cứu rỗi” về mặt phương pháp, bạn phải chứng minh được người Kinh có cái “phức cảm cứu rỗi” đó bằng các dữ liệu định tính hoặc định lượng từ phát ngôn của những nhóm người Kinh nào (khách du lịch, những người làm công tác thiện nguyện, người quản lý…), diễn ngôn từ văn bản hay báo chí, hoặc kết quả từ các cộng cụ đo lường lắng nghe về bình luận từ mạng xã hội. Ở phần trên, khái niệm “phức cảm cứu rỗi” có thể xem xét ở các chỉ báo như là việc áp đặt chính sách phát triển lên địa phương, xem cộng đồng địa phương lạc hậu, thụ động cần được giúp đỡ từ bên ngoài, bác bỏ tính chủ động của chủ thể địa phương đặt trong bối cảnh văn hóa môi trường của địa phương đó. Vì thế tác giả nên chỉ ra đối tượng mà tác giả nói khi thực hành phát triển có áp đặt chính sách phát triển lên cộng đồng địa phương không? Những người thực hành chính sách phát triển có đang cho rằng cộng đồng địa phương bị động, cần phải cứu rỗi không? Chính sách phát triển có bác bỏ tiếng nói, nguyện vọng của cộng đồng địa phương? Không thể phân tích từ vài dòng chiến dịch marketing của một thương hiệu rồi quy kết nhóm đa số ở xã hội có “phức cảm cứu rỗi” để rồi bị doanh nghiệp lợi dụng để làm marketing. Cũng không thể dựa vào số lượt share hay hashtag để có thể quy kết nhóm người Kinh là phức cảm cứu rỗi. Điều này hoàn toàn mang tính võ đoán dẫn đến những chia rẽ và hiểu lầm không đáng có.

Chúng ta xem xét một trường hợp về cách nhà nhân loại học sử dụng phương pháp định tính để chứng minh những du khách da trắng phương Tây có phức cảm cứu rỗi như thế nào. Trong nghiên cứu của nhà nhân loại học Ranjan Bandyopadhyay (2019), tác giả đã phân tích du lịch tình nguyện là một hình thức của chủ nghĩa thực dân mới trong đó người phương Tây đến giúp đỡ người dân ở các nước đang phát triển dưới danh nghĩa “phát triển”. Tác giả đã chỉ ra có sự tương đồng giữa du lịch tình nguyện và thời kỳ thuộc địa cũ, khi phương Tây thực hiện “gánh nặng của người da trắng” với ý tưởng cứu rỗi và hiện đại hóa phương Đông. Các du khách tình nguyện da trắng vẫn mang tư tưởng ưu việt của người da trắng và Kitô giáo. Họ cho rằng người dân bản địa lạc hậu, cần được cứu rỗi và khai sáng bởi các giá trị Kitô giáo phương Tây. Truyền thông phương Tây đã tạo ra hình ảnh rất tiêu cực và sai lệch về các nước nghèo như Ấn Độ để biện minh cho các hoạt động du lịch tình nguyện. Ranjan Bandyopadhyay đã phỏng vấn các du khách phương Tây da trắng, khi nói chuyện với họ, họ thường nói rằng “Người Ấn Độ thật sự quá nghèo… chúng ta cần phải giúp đỡ họ”; “Những người Ấn Độ nên học hỏi những người phương Tây cách xây dựng đất nước, bảo vệ người dân, nuôi sống họ một cách hợp lý và hiện đại hóa quốc gia của họ”. Từ dữ liệu phân tích tư liệu đi trước đến những đoạn phỏng vấn sâu từ khách du lịch phương Tây da trắng, tác giả đã làm nổi bật lên “phức cảm cứu rỗi” của người phương Tây da trắng.

Trong bối cảnh Việt Nam, chúng ta có thể thấy rằng nhiều năm qua có nhiều chiến dịch, chương trình giúp đỡ mang tính chung tay cộng đồng từ việc cứu trợ những người dân bị thiên tai tại miền Trung hay vùng cao. Nhiều dự án bền vững cho việc phát triển ở vùng cao đang được thực hiện đều có sự góp sức người và sức của từ đa dạng nhóm cộng đồng. Các cộng đồng ở vùng cao ở Việt Nam hiện nay gần như không sống tách biệt như thời Condominas viết “Chúng tôi ăn rừng” nữa mà đang càng ngày càng hòa nhập cao vào tính hiện đại và toàn cầu hóa. Ngoài những lợi ích mà nó đem lại, mặt khác các cộng đồng đó cũng đang phải chịu hệ quả của toàn cầu hóa mang lại, các dự án phát triển chưa xem xét đầy đủ tính bền vững hay biến đổi khí hậu tác động lên họ. Việc sử dụng khái niệm “phức cảm cứu rỗi” mà không có phân tích cặn kẽ, có thể gây chia rẻ giữa người Kinh và nhóm tộc người khác, tạo cảm giác cho các nhóm đa số không dám hành động hỗ trợ cộng đồng khác vì lo trở thành “những kẻ đi cứu rỗi”, có thể dẫn đến việc tạo ra những suy nghĩ rằng cứ để các cộng đồng vùng cao đó tự lực cánh sinh trong khi nguồn lực giúp họ phát triển đang bị cạn kiệt do biến đổi khí hậu, nạn phá rừng hay tiếp cận sinh kế ở rừng còn gặp nhiều rào cản, vướng mắc.

Xem xét tài khoản của Thanh Hạ, chúng tôi nhận thấy bạn là một người thuộc thế hệ trẻ đang làm việc với các nhóm người bản địa ở khu vực dãy Trường Sơn. Do tính chất công việc, có lẽ bạn đã sớm được tiếp cận với khung lý thuyết của nhân loại học. Những trải nghiệm của cá nhân bạn ấy với các cộng đồng khác quả thật đáng trân quý, mong bạn sẽ tiếp tục dành thời gian để thu thập và triển khai sâu sắc hơn cho bài viết của bạn, để tránh những hiểu lầm và phản đối không đáng có.

HƯỚNG TỚI TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP MANG TÍNH BỀN VỮNG

Chúng tôi nghĩ rằng thay vì nghĩ theo chiều hướng “cưỡng lại tính hiện đại” thì phải là “lèo lái tính hiện đại” để nó trở thành nguồn lực phát triển bền vững cho cộng đồng địa phương, vừa tăng cường sự hợp tác sâu rộng của nhiều lực lượng trong việc hỗ trợ nhau, chứ không phải câu chuyện cá nhân của riêng nhóm “bản sắc” nào cả. Cái quan trọng phải luôn đặt yếu tố văn hóa, môi trường địa phương là nền tảng cơ bản của sự phát triển.

Chúng ta có thể xem xét một vấn đề phát triển dựa trên văn hóa địa phương về vấn đề dinh dưỡng trẻ em tại khu vực Kenya châu Phi (Chaiken, 2019). Trẻ em ở đây có tỷ lệ tử vong cao, với nhiều bệnh như sốt rét, tiêu chảy, sởi và nhiễm trùng hô hấp. Điều kiện vệ sinh kém, thiếu dinh dưỡng và khó tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe… đã góp phần không nhỏ vào tình trạng này. Khoảng 1/4 số trẻ dưới 5 tuổi bị thấp còi do suy dinh dưỡng kéo dài. Chế độ ăn của trẻ chủ yếu là cháo bột ngô/kê đặc, ít calo và đa dạng. Các nhà nhân loại học khi nghiên cứu ở đây đã thấy rằng chế độ ăn của trẻ nhỏ ở Kenya chủ yếu dựa vào các thực phẩm giàu tinh bột như cháo loãng (nyuka) hoặc bột ngô/kê đặc (kuon hoặc ugali), ít calo và thiếu đa dạng, không đủ protein, vitamin và khoáng chất. Khi phỏng vấn người dân địa phương, các nhà nhân loại học thấy rằng trong quá khứ, chế độ ăn truyền thống của trẻ em tốt hơn, có bổ sung sữa bò, bơ, máu tươi hoặc khô vào cháo, tăng chất lượng dinh dưỡng. Nhưng hiện nay những thực phẩm này ít phổ biến hơn do điều kiện chăn nuôi và kinh tế thay đổi. Vì thế các nhà nhân loại học đã phối hợp người dân địa phương là sử dụng cá omena khô là loại thực phẩm phổ biến, rẻ tiền và là nguồn protein giá rẻ nhất ở địa phương. Khi xay nhuyễn trộn với bột ngũ cốc, nó tạo ra loại bột dinh dưỡng cao hơn bột ngô/kê thông thường. Một số phụ nữ địa phương đã áp dụng cách làm này và thấy con họ ăn được món cháo bổ sung này. Phần lớn phụ nữ nhận thấy con họ sẵn sàng ăn cháo omena qua các buổi nấu ăn thử nghiệm.

Câu chuyện về phát triển ở châu Phi vừa nêu trên có thể là gợi ý cho các doanh nghiệp ở Việt Nam có trách nhiệm xã hội tại cộng đồng vùng cao bằng cách trích một phần lợi nhuận phối hợp với các nhà nghiên cứu về văn hóa, sức khỏe, thực phẩm tìm hiểu về chế độ ăn uống của các cộng đồng tại đây. Từ đó, các doanh nghiệp có thể cùng đồng hành cộng đồng địa phương trồng trọt giống thực vật bản địa, hoặc nuôi động vật tại địa phương để cung cấp nguồn thức ăn đa dạng và giàu dinh dưỡng hơn, chứ không phụ thuộc vào nguồn cung sữa hộp, cũng như để các cộng đồng địa phương tự xây dựng hệ thống thực phẩm đa dạng phù hợp văn hóa, môi trường của riêng họ. Doanh nghiệp có thể trích lợi nhuận để đầu tư vào các hệ thống y tế tại địa phương, cải thiện chăm sóc vấn đề sức khỏe cho trẻ em tại vùng cao, tăng cường dưỡng chất cho thực phẩm để các bà mẹ tại các cộng đồng vùng cao có thể nuôi con bằng sữa mẹ tốt nhất. Đây là gợi ý của chúng tôi, chúng tôi nghĩ rằng không dễ dàng thực hiện vào ngày một, ngày hai, nhưng có thể hướng đến được vì nhiều quốc gia đã làm được, chứ không chỉ gói gọn trong trong giấc “mơ” lơ lửng suốt dọc dãy núi tại Việt Nam.

Phần cuối, chúng tôi cũng muốn cảm ơn tài khoản Thanh Hạ vì dù đây là một vấn đề không mới nhưng nhờ tài khoản này mà nhận được sự quan tâm của phần đông các bạn. Thiết nghĩ, nếu Thanh Hạ đã đi nhiều – nghe nhiều – học nhiều và can đảm chỉ điểm vấn đề, chúng tôi rất mong chờ phản hồi của bạn với cuộc tranh luận đang diễn ra dạo gần đây, như một cách thể hiện trách nhiệm xã hội thiết thực hơn là những mộng mơ nửa vời “về một môi trường giáo dục nơi ai cũng được chạm đến điều gì sâu sắc”.

Tài liệu tham khảo:

Bandyopadhyay, R. (2019). Volunteer tourism and “The White Man’s Burden”: globalization of suffering, white savior complex, religion and modernity. Journal of Sustainable Tourism, 27(3), 327-343.

Chaiken, M. S. (2019). Anthropology, nutrition, and the design of a health intervention program in Western Kenya. In Anthropology of Development and Change in East Africa (pp. 237-249). Routledge.

Cole, T. (2012, March 21). The White-Savior Industrial Complex. The Atlantic.

Said, E. W. (2014). Đông phương luận, Lưu Đoàn Huynh. Phạm Xuân Ri, Trần Văn Tụy dịch, NXB Tri thức.

Spivak, G. C. (1988). Can the subaltern speak? In C. Nelson & L. Grossberg (Eds.), Marxism and the Interpretation of Culture (pp. 271-313). University of Illinois Press.