[LẢM NHẢM ĐÊM KHUYA: ĐỪNG LÃNG MẠN HOÁ NGÀNH NHÂN LOẠI HỌC HAY BẤT KỲ NGÀNH XÃ HỘI NÀO]

Nhiều bạn trẻ thường lãng mạn hoá việc trở thành một người làm việc trong lĩnh vực Nhân loại học là sẽ tới vùng dất xa xôi, trải nghiệm nền văn hoá khác biệt, bên bếp lửa bập bùng, cũng như trong tình yêu mến của cộng đồng địa phương như tác phẩm “Chúng tôi ăn rừng” của Condominas, nơi ông miêu tả cuộc sống của mình với người Mnong Gar. Tuy nhiên, đây chỉ là một khía cạnh lãng mạn hoá của ngành Nhân loại học. Thực tế công việc của một nhà nhân loại học không hề đơn giản và dễ dàng như nhiều người vẫn tưởng.

Tôi đã từng đi điền dã tại một bản làng của người Dao ở vùng núi phía Bắc. Trong thời gian ở đó, tôi chứng kiến cảnh người chồng đánh vợ ngay tại gia đình tôi ở trọ. Bản thân là một người phụ nữ, lúc đó, cảm xúc và suy nghĩ trong tôi vô cùng hoảng loạn và rối bời. Một mặt, tôi muốn can thiệp vào vụ việc, bảo vệ người phụ nữ bị bạo hành. Nhưng mặt khác, đạo đức nghề nghiệp của một nhà nhân loại học khiến tôi không thể làm điều đó. Tôi không thể xen vào chuyện riêng tư, đời sống của đối tượng mình nghiên cứu.

Điều khiến tôi không khỏi đặt ra nhiều câu hỏi là vào buổi tối hôm đó, người vợ tỏ ra giận dữ, chửi bới chồng và nói sẽ bỏ đi. Nhưng sáng hôm sau gặp tôi, chị ấy lại khẳng định yêu chồng, không muốn ly hôn. Sự việc này buộc tôi phải suy ngẫm lại về các khái niệm như quyền phụ nữ, bạo lực gia đình, bình đẳng giới. Liệu người dân ở đó có thực sự cần những khái niệm ấy không? Họ cần theo cách nào? Đây là bài toán không hề đơn giản với một nhà nhân loại học sinh ra và lớn lên ở thành phố lớn như tôi.

Trước đây, do thiếu hiểu biết và kinh nghiệm, bản thân tôi cũng từng có nhiều định kiến. Chỉ qua cái nhìn thoáng qua hay lời đồn đại về ai đó, tôi đã vội phán xét, tỏ thái độ với đối tượng. Nhưng thầy giáo đã chỉ ra sự thiếu chuyên nghiệp của tôi, rằng cách ứng xử như vậy không phù hợp với một nhà nhân loại học. Dần dần, tôi học cách lắng nghe câu chuyện, tâm tư, hoàn cảnh của những người dân tại cộng đồng mình nghiên cứu.

Có những ngôi làng tôi quay lại nhiều lần, gắn bó và thân thiết với bà con. Vậy nên khi hay tin một số cụ già mà tôi từng phỏng vấn đã qua đời, lòng tôi chạnh buồn và tiếc nuối vô hạn. Giờ đây, tôi nhận ra rằng mình không nhất thiết phải làm những việc lớn lao để phục vụ hay cải tạo xã hội. Chính bản thân ngành Nhân loại học như một món quà quý báu mà cuộc đời trao tặng cho tôi giúp tôi chữa lành các mối quan hệ cá nhân.

Quá trình tìm hiểu, đắm mình vào đời sống của các cộng đồng đã cho tôi cái nhìn mới mẻ, sâu sắc hơn về chính mình và mối quan hệ với mọi người xung quanh. Tôi học cách thấu cảm, suy xét mọi việc ở góc nhìn của người khác. Những chuyến đi thực địa đã mang lại cho tôi những bài học và trải nghiệm quý giá mà không phải ai cũng may mắn có được.

Ngành Nhân loại học không đơn thuần là một nghề nghiệp lãng mạn, nhẹ nhàng như tưởng tượng của nhiều người. Đằng sau những câu chuyện cảm động về tình người, sự gắn kết là vô vàn khó khăn, thử thách mà các nhà nhân loại học phải đối mặt. Họ vừa phải giữ cái tâm trong sáng, khách quan, vừa học cách kiềm chế cảm xúc, tôn trọng ranh giới với đối tượng nghiên cứu. Đó là nghệ thuật mà không phải ai cũng làm được. Chính vì vậy, khi theo đuổi ngành Nhân loại học, các bạn trẻ cần có cái nhìn thực tế, không nên quá lý tưởng hóa nghề nghiệp này.