NẾU NHÂN LOẠI HỌC ĐƯỢC ĐƯA VÀO CHƯƠNG TRÌNH TRƯỜNG PHỔ THÔNG SẼ NHƯ THẾ NÀO?

Có một điều chúng tôi mong mỏi là một ngày nào đó các trường học ở Việt Nam có thể cho Nhân loại học trở thành một môn học như Văn, Sử, Địa cho học sinh. Thực tế, một số quốc gia ở châu Âu có đưa Nhân loại học là một môn học cho học sinh. Môn học Nhân loại học không phải là môn để đạt điểm cao và thành tích, mà là để cho các bạn học sinh có thể hiểu được sự đa dạng văn hoá xung quanh chúng ta. Hiểu được cách các nền văn hoá vận hành như thế nào. Khi hiểu được rồi, chúng ta sẽ sẽ thấy những giá trị của phương Tây đôi khi nó không khớp trong nhiều bối cảnh địa phương.

Các bạn học sinh cấp 3 hiện nay ở một số trường chuyên tại Việt Nam (đặc biệt khu vực phía Bắc) bị ảnh hưởng rất nhiều từ truyền thông phương Tây về cái gọi là “công bằng”, “bình đẳng”, “chiếm dụng văn hoá”, “phức cảm cứu rỗi”, nó ám ảnh kéo dài các bạn đến tận sinh viên. Nhưng câu hỏi thực tế mà chúng ta nên hỏi: Các bạn có bao giờ thật sự trải nghiệm một nền văn hoá khác biệt chưa?

Tại vì khi bạn trải nghiệm ở nền văn hoá khác, bạn mới có thể tự soi chiếu so sánh với nền văn hoá đã nuôi dưỡng bạn. Nó rất khác biệt. Lúc đó bạn sẽ thấy những cái gọi là “công bằng”, “bình đẳng”, “hạnh phúc”, “thành công”, được cộng đồng địa phương đó định nghĩa rất khác so với cách hiểu của bạn.

“Công bằng” và “bình đẳng” của người nông dân là gì? Các hộ nông dân đều có thể tiếp cận được nước ngọt cho việc tưới tiêu để đối phó với hạn hán. Họ không bị thương lái, doanh nghiệp ép giá. Họ được tạo điều kiện và khuyến khích sử dụng tri thức bản địa trong việc trồng trọt. Hạnh phúc của họ là trái bơ trên vườn chín, không có thuốc trừ sâu, không phải dùng thuốc trừ sâu để chạy theo lợi nhuận thị trường.

Chính Nhân loại học như là một cầu nối giữa các cộng đồng và địa phương với nhau, để “giải ảo” về những hiểu lầm mà nhóm này, nhóm kia nhìn về nhau.

Người ở đồng bằng thường nói rằng người ở vùng cao lạc hậu, mê tín dị đoan. Trước khi hạn hán chưa phức tạp như hiện nay, khi nguồn nước được đưa tới các làng, họ nói với chúng tôi rằng “Xưa sợ thiếu nước để làm lúa, nên cần nhờ thầy phù thuỷ cúng làm mưa. Nay nước về rồi, không cần phù thuỷ nữa”. Chính sự thay đổi, phát triển của điều kiện kinh tế xã hội làm cho con người ở làng thay đổi tư duy. Sau hơn 10 năm, khi hạn hán càng biến đổi phức tạp thì vai trò của nghi lễ cầu mưa một lần nửa trở lại. Người dân bắt đầu làm lễ cầu mưa như là một biện pháp chấn an cho người dân làng thoát khỏi sự lo lắng những ngày oi ả này.

Nếu những gì chúng tôi nói trên được đưa dạy thì các học sinh sẽ hiểu rằng những khái niệm như “công bằng”, “bình đẳng”, “hạnh phúc” có ý nghĩa khác nhau tùy vào bối cảnh văn hóa. Điều được coi là công bằng ở cộng đồng này có thể không phù hợp ở nơi khác. Sự nhận thức này giúp các bạn có cái nhìn đa chiều, khách quan hơn.

Nói chung đây chỉ là một điều tưởng tượng của chúng tôi, sẽ rất khó trở thành hiện thực. Nhưng chúng ta vẫn có thể tự học được bằng việc đọc sách, khi mà nhiều sách Nhân loại học cơ bản đã được viết và dịch ra ở Việt Nam.