CHÚNG TA CÓ CẦN PHẢI THAM GIA GIÁO DỤC KHAI PHÓNG?

Giáo dục khai phóng trong những năm vừa qua là một từ khá là “hot”. Chúng tôi nhớ không lầm từ những năm 2010-2015 thì cụm từ này đã được thảo luận rất nhiều ở các diễn đàn triết học và về giáo dục ở TP.HCM.

Chỉ cần search từ khoá “giáo dục khai phóng” trên google, có thể thấy rằng trên website nhiều trường Đại học ở Việt Nam sử dụng cụm từ này để thể hiện quan điểm, triết lý giáo dục của trường. Một số trường chỉ đơn giản sử dụng “giáo dục khai phóng” như là công cụ marketing.

Nhưng có một điều rằng giáo dục khai phóng ở một số trường Đại học không phải ai cũng tiếp cận được. Vì học phí rất đắt đỏ có thể dao động tầm nửa tỷ một năm. Vấn đề nằm ở đây chỉ có một tầng lớp tinh hoa và có điều kiện kinh tế tiếp cận. Trong khi phần lớn những người trẻ thuộc tầng lớp kinh tế khác sẽ khó mà tham gia những chương trình dạy này. Nghĩa là chỉ có một bộ phận nhỏ của xã hội được tiếp cận với “khai phóng”.

Truy ngược lại lịch sử của “giáo dục khai phóng” có thể thấy rằng có từ thời Hy Lạp. Trong truyền thống “Socratic” (xuất phát từ triết gia Hy Lạp Socrates) thì trong truyền thống này, tri thức được truyền bá và xác nhận thông qua đối thoại và thảo luận. Mọi người đặt câu hỏi, tranh luận và thuyết phục lẫn nhau để đi đến chân lý. Sự đồng thuận đạt được qua đối thoại được coi là sự thừa nhận tri thức một cách tối cao. Trong chương trình dạy “giáo dục khai phóng”, việc đòi hỏi học viên tham gia tranh luận, nêu lên quan điểm của riêng mình là điều quan trọng.

Nhà nhân loại học Fredrik Barth khi nghiên cứu người Baktaman ở New Guine đã so sánh truyền thống truyền bá tri thức “Socratic” với truyền thống truyền bá tri thức của người Baktaman. Người Baktaman truyền bá tri thức thông qua thực hành bảo mật và nghi lễ, chứ không thông qua giải thích và đối thoại. Trong bối cảnh không có chữ viết, chỉ có “vật thể thực” (như các biểu tượng vật chất; vd: cây cối như là biểu tượng của họ) là tồn tại bền vững, trong khi giao tiếp bằng lời nói thì dễ phai tàn. Vì vậy, chỉ những thông điệp nào được liên tục tái hiện trong nghi lễ và thực hành mới được lưu truyền và duy trì như một phần của truyền thống.

Fredrik Barth cho rằng ở người Baktaman, cấu trúc tri thức tồn tại không phải dưới dạng các mô thức có thể diễn đạt bằng lời một cách phong phú, cũng không đơn thuần là tổng hòa những gì đã được nói ra, mà là những gì được tiếp nhận và sẽ được kích hoạt lại trong thực hành.

Lập luận Fredrik Barth rất truyền cảm hứng cho chúng tôi. Trong quá trình trao đổi về giáo dục thay thế giữa kulavietnam và đối tác của chúng tôi. Chúng ta không cần phải tham gia những cuộc tranh luận hay thảo luận tại phòng kín như là một đặc quyền tầng lớp thượng lưu trong chương trình giáo dục khai phóng. Bởi vì người Baktaman truyền bá tri thức thông qua nghi lễ của những sự vật mà có thể nhìn thấy, sờ thấy được. Vì thế mô hình giáo dục thay thế có thể sử dụng ý tưởng này của người Baktaman. Học viên có thể tham gia và đi đến các cộng đồng địa phương/bản địa ở Việt Nam và ngoài nước. Học viên cùng ăn, cùng ở và cùng làm với họ, tham gia các nghi lễ. Điều thú vị, chính cộng đồng địa phương/bản địa là người thầy của học viên để dạy cho họ về tri thức bản địa, về văn hoá, về cách canh tác nông nghiệp truyền thống. Các bạn có thể sờ thấy, nhìn thấy và cảm thấy được những tương tác văn hoá sự vật, hiện tượng ngay trước mắt chúng ta, chứ không phải chỉ là lời nói hay những giả định mà mất trăm năm có thể không thể chứng minh được. Nhưng khi đến một cộng đồng các bạn có thể thấy được những suy nghĩ, giả định của chúng ta đã thật sự hoàn chỉnh chưa?

Đường đi dài thì cần người đồng hành. Chúng tôi rất muốn cùng các anh chị nào hứng thú có thể đồng hành chúng tôi, nhất là các anh chị đã tham gia các hoạt động kulavietnam nhiều lần và hiểu chúng tôi đang chia sẻ văn hoá theo một cách rất riêng biệt.