NHÀ NHÂN LOẠI HỌC GIÚP CHO GIÁO DỤC WALDORF/STEINER ĐỊA PHƯƠNG HOÁ CHƯƠNG TRÌNH DẠY NHƯ THẾ NÀO?

Giáo dục Waldorf/Steiner là một phương pháp và triết lý sư phạm được phát triển bởi Rudolf Steiner vào đầu thế kỷ 20, đã lan rộng từ cội nguồn châu Âu đến khắp các châu lục. Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình giáo dục này vào các bối cảnh văn hóa và địa lý khác nhau đặt ra nhiều câu hỏi về tính phù hợp và khả năng thích nghi của nó. Nhiều nhà giáo dục và học giả đã chỉ ra rằng chương trình giáo dục Waldorf/Steiner mang nặng tính “dĩ Âu vi trung” và cần được địa phương hóa để đáp ứng sự đa dạng ngày càng tăng của học sinh trên toàn cầu (Cherry, 2014; Rawson, 2010).

Diễn đàn Quốc tế về Giáo dục Steiner/Waldorf, cơ quan quốc tế của phong trào giáo dục Waldorf, gần đây đã tuyên bố trong một bài báo:

… trong việc tiếp thu các chỉ dẫn mà Rudolf Steiner đưa ra cho giảng dạy, ví dụ như dựa nhiều hơn vào các giá trị văn hóa phương Tây, những điều này cần được bổ sung hoặc thay thế bằng nội dung có giá trị tương ứng, miễn là hiệu quả sư phạm được duy trì.

Chương trình giảng dạy … được phát triển tùy thuộc vào vị trí địa lý và văn hóa, sự phát triển liên quan đến thời gian và chính trị cũng như các đường hướng phát triển chung hoặc toàn cầu. Mỗi trường học nằm trong một không gian văn hóa, địa lý và chính trị. … Mỗi khu vực và quốc gia có lịch sử riêng, đặc trưng cho lịch sử thế giới từ góc nhìn của chính nó và cũng sẽ có ảnh hưởng đến chương trình giảng dạy. (Diễn đàn Quốc tế về Giáo dục Steiner/Waldorf, 2015, tr. 14) (Nhấn mạnh của tác giả)..

Oberman (2008) cho rằng “các cấu trúc chuẩn tắc” trong chương trình Steiner hạn chế quá trình thích ứng với các bối cảnh văn hóa địa phương. Bà viết: “Chương trình vẫn hầu như không thay đổi, ngay cả trước áp lực trong thập kỷ qua về việc từ bỏ chủ nghĩa châu Âu trung tâm… Thậm chí ở nội thành Milwaukee [thành phố tại Hoa Kỳ có truyền thống về người bản địa Bắc Mỹ ở đây], giáo viên Waldorf vẫn tiếp tục kể câu chuyện thần thoại Bắc Âu về Odin và Thor” (Oberman, 2008, tr. 13). Điều này cho thấy một xu hướng bảo thủ, gắn bó với các giá trị và truyền thống châu Âu trong giáo dục Waldorf/Steiner.

Sự thiếu đa dạng và đại diện cho các cộng đồng rộng lớn hơn cũng là một vấn đề cần quan tâm. Ngay từ khi ngôi trường đầu tiên được thành lập ở Stuttgart năm 1919, nó đã hướng đến con em của tầng lớp lao động, mang đậm yếu tố công bằng xã hội. Tuy nhiên, chỉ sau vài năm, nó đã trở thành trường học chủ yếu cho con cái của những người thuộc tầng lớp tinh hoa theo nhân trí học (anthroposophy), không còn đại diện cho cộng đồng Stuttgart rộng lớn hơn (Tautz, 1982, dẫn theo Boland, 2015).

Rawson (2010) chỉ ra rằng giáo dục Steiner “hầu như chưa bắt đầu phản ánh một cách nghiêm túc về ý nghĩa của sự mở rộng này trong việc truyền đạt ý tưởng vào các nền văn hóa và môi trường khác nhau” (tr. 2). Thiếu tính phê phán này cũng được Alain Denjean nhắc lại, người cho rằng nhiều giáo viên tiếp cận chương trình theo cách máy móc, xem nó như một “con đường mòn” hoặc chỉ đơn thuần tuân theo “một tập hợp các chuẩn mực” (Denjean, 2014, trích dẫn trong Boland, 2015).

Để vượt qua tính dĩ Âu vi trung và thúc đẩy quá trình địa phương hóa, giáo dục Waldorf/Steiner cần trải qua một sự biến đổi thực sự xuất phát từ bối cảnh văn hoá địa phương. Điều này đòi hỏi một sự suy ngẫm nghiêm túc về việc làm thế nào để thích ứng phương pháp sư phạm này với các bối cảnh văn hóa đa dạng, tôn trọng lịch sử và bản sắc địa phương, đồng thời vẫn giữ được những nguyên lý cốt lõi của triết lý giáo dục Steiner. Đó là một thách thức không nhỏ khi phong trào giáo dục Waldorf/Steiner bước vào những lãnh trường văn hoá vượt ra ngoài phạm vi châu Âu, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á, nơi tiếp nhận nhiều luồng văn hoá đa dạng suốt nhiều thế kỷ qua.

VẬY NHÀ NHÂN LOẠI HỌC CÓ VAI TRÒ NHƯ THẾ NÀO?

Dưới góc độ của một nhà nhân loại học để điều chỉnh chương trình giáo dục Waldorf cho phù hợp với bối cảnh địa phương ở Việt Nam, các nhà giáo dục cần có sự hiểu biết sâu sắc về văn hóa, lịch sử và bản sắc của văn hoá địa phương. Đặc biệt, Việt Nam là một nền văn hoá đầy đa dạng của nhiều tộc người, nhiều luồng gió văn hoá từ Trung Quốc, Ấn Độ và phương Tây. Đây chính là lĩnh vực mà các nhà nhân loại học có thể đóng góp nhiều nhất, thông qua kinh nghiệm nhiều năm trong việc nghiên cứu, khảo sát thực địa, và phân tích tư liệu nghiên cứu để cung cấp cho các thầy cô những hiểu biết toàn diện và chuyên sâu.

Cụ thể, các nhà nhân loại học có thể sử dụng kinh nghiệm dân tộc chí (ethnography) từ những trải nghiệm đã từng đến sống và làm việc trong một cộng đồng văn hoá (làng quê, bản làng tộc người) trong thời gian dài, qua đó am hiểu nếp sinh hoạt, phong tục, tín ngưỡng và thế giới quan của họ. Chẳng hạn, khi tìm hiểu về tộc người Mường hay Tày ở vùng núi phía Bắc, nhà nhân loại học có thể ghi chép lại những câu chuyện dân gian về Sáng thế của các vị thần của họ, đồng thời quan sát những nghi lễ tang ma đặc sắc của người Mường, từ đó cung cấp cho giáo viên những hiểu biết sống động và sinh động về nền văn hóa này để lồng ghép một cách tự nhiên vào các môn học như Lịch sử hay Mỹ thuật.

Bên cạnh đó, các nhà nhân loại học cũng có thể khai thác nguồn sử liệu và tài liệu lưu trữ phong phú về các nền văn minh cổ đại và vương quốc lớn trong lịch sử để giúp học sinh châu Á hiểu rõ hơn về cội nguồn của mình. Chẳng hạn, nhà nhân loại học có thể nghiên cứu về văn hoá vương quốc Phù Nam hay với nền văn hóa Phật giáo Đồng Dương rực rỡ đã từng xuất hiện trong lịch sử triều đại Chămpa. Những kiến thức này sẽ được nhà nhân loại học tổng hợp và chuyển tải cho các giáo viên Waldorf để giảng dạy văn hoá Việt Nam một cách hấp dẫn và ý nghĩa hơn.

Với vốn hiểu biết sâu rộng về các tộc người thiểu số, nhà nhân loại học có thể hỗ trợ các giáo viên giảng dạy những môn học chuyên biệt như ngôn ngữ học của tộc người. Ví dụ, để dạy về ngôn ngữ và chữ viết truyền thống của người Chăm, nhà nhân loại học cung cấp cho giáo viên kiến thức về hệ thống chữ viết ghi chép trên kinh lá buông. Hay khi giới thiệu về nghệ thuật của tộc người trên Tây Nguyên, nhà nhân loại học chia sẻ về kỹ thuật dệt của họ và âm nhạc truyền thống của tộc người này.

Ngoài ra, nhà nhân loại học còn có thể kết nối các giáo viên Waldorf với những nghệ nhân, thợ thủ công hay nghệ sĩ dân gian để mời họ đến trường trình diễn, giảng dạy. Từ đó, học sinh được trải nghiệm những nét văn hóa đặc sắc như hát sli, đan lát, dệt thổ cẩm, đúc đồng của các cộng đồng tộc người.

Có thể thấy, nhà nhân loại học đóng vai trò như một nhà nghiên cứu, một chuyên gia tư vấn và một sứ giả văn hóa để hỗ trợ các trường Waldorf ở bối cảnh địa phương phát triển một chương trình giáo dục gắn với bản sắc và giá trị nhân văn tôn vinh nền văn hoá đa dạng của nhiều tộc người. Thông qua hợp tác chặt chẽ và sự đồng hành của các nhà nhân loại học, các thầy cô giáo địa phương sẽ từng bước làm chủ và điều chỉnh linh hoạt nội dung giảng dạy, từ đó kiến tạo nên một nền giáo dục Waldorf mang đậm sắc thái văn hóa Á Đông.

Tài liệu tham khảo:

Boland, N. (2015). The globalisation of Steiner education: Some considerations. RoSE - Research on Steiner Education, 6, 192-202.

Cherry, B. (2014). Resurgence in China. Journal of the Pedagogical Section at the Goetheanum, 51, 14-18.

Denjean, A. (2014). Curricula in Kiswahili, Arab [sic], French…Journal of the Pedagogical Section at the Goetheanum, 51, 19-22.

Oberman, I. (2008). The Waldorf movement in education from European cradle to American crucible, 1919-2008. Edwin Mellen Press Ltd.

Rawson, M. (2010). Sustainable teacher learning in Waldorf education: A socio-cultural perspective. RoSE - Research on Steiner Education, 1(2).

Tautz, J. (1982). The founding of the first Waldorf School in Stuttgart. Pedagogical Section Council of North America.