Tác giả: Beni Sumer Yanthan ngày 28/08/2023
Một học giả nữ đến từ Nagaland, Ấn Độ chia sẻ những cái nhìn cơ bản, chân thực về sự mai một ngôn ngữ và văn hoá trong cộng đồng bộ tộc bản địa của cô. Cô là trợ lý giáo sư về tiếng Anh và nghiên cứu văn hóa tại Đại học Nagaland. Lĩnh vực chuyên môn của cô bao gồm nghiên cứu truyền thống truyền miệng, nghiên cứu ngôn ngữ và văn học bản địa của Nagaland. Ngoài thơ, cô còn viết tiểu luận, truyện ngắn và phê bình sách.
Bài thơ “Nói bằng lưỡi” của tôi khai thác bản chất bản sắc của các bộ tộc trong một nền văn hoá nơi ngôn ngữ, qua hàng thiên niên kỷ, đóng một vai trò trọng tâm và đặc sắc trong việc ghi lại và tiếp cận lịch sử. Không có chữ viết bản địa, người Naga, một nhóm gồm hơn 30 cộng đồng bộ tộc ở Ấn Độ ngày nay (Nagaland, Manipur, và Arunachal Pradesh) và Myanmar, đã phát triển và duy trì lịch sử của họ thông qua các truyền thống truyền miệng được truyền qua nhiều thế hệ. Quá khứ này được ghi chép thưa thớt cho đến khi người Anh xâm nhập vào lãnh thổ Naga vào thế kỷ 19.
Những truyền thống truyền miệng của người Naga được gắn với các đặc điểm ngôn ngữ riêng, dân gian, tín ngưỡng, phong tục, và văn hoá vật chất. Qua những điều đó, người Naga có thể khẳng định và nhận định bản sắc bộ lạc của họ. Để hiểu biết về vũ trụ Naga hay trong trường hợp này là thế giới của người Lotha Naga là phải vật lộn với ngôn ngữ xây dựng, cấu thành, điều chỉnh và đóng vai trò như điểm khởi đầu để thực sự biết được ý nghĩa của việc là một người Lotha.
Ngôn ngữ này của người Lotha, được gọi là Kyong-yi bởi họ phản ánh các truyền thống mà nó đã duy trì qua hàng thiên niên kỷ. Theo nghĩa đó, mỗi từ đều giao tiếp với truyền thống, khi nó có ý thức và vô thức tìm kiếm và hấp thụ các hình thái mới.
Tuy nhiên, do nhiều yếu tố, các ngôn ngữ bộ tộc của chúng tôi đang chứng kiến sự xói mòn từ bên trong khi nhiều thế hệ trẻ dân tộc sử dụng tiếng Anh hoặc tiếng Nagamese (một loại ngôn ngữ pha trộn được sử dụng ở một số nơi tại Nagaland) như ngôn ngữ giao tiếp chính thay vì ngôn ngữ bản địa của họ. Điều này đã thúc đẩy rất nhiều đến sự suy thoái của các ngôn ngữ bộ tộc và làm trầm trọng thêm tình trạng mất trí nhớ văn hoá tập thể.
Trong bối cảnh của người Lotha Naga, sự biến đổi văn hóa này đã dẫn đến sự hoà trộn khó chịu giữa yếu tố truyền thống và hiện đại. Truyền thống giờ đây tượng trưng cho một quá khứ có thể được tuỳ biến hoặc hồi sinh để khẳng định bản sắc của một người, nhưng đó là quá khứ mà các nghi thức không còn là một phần của thực tế sống. Bài thơ của tôi tìm cách nêu lên khoảng cách giữa các thế hệ xưa (được biểu trưng bởi bà) và hiện tại.
Tôi cũng đề cập đến việc các nền văn hoá bộ lạc bản địa phải thích nghi và cởi bỏ các lớp của mình để tồn tại trong một thế giới, khác với thế giới của họ, nơi kinh nghiệm con người là tuyến tính, được ghi chép lại và thường là độc âm. Trong khổ thơ cuối cùng, tôi cố gắng chứng minh làm thế nào sự mất đi ngôn ngữ và văn hoá đã trở thành một thực tế cơ bản của cuộc sống bộ lạc ngày nay.
NÓI BẰNG LƯỠI
Bếp của bà ngào ngạt mùi tinh tuý của lá,
Tường rung lên giữa gió nhà ngoài lạo xạo.
Khói đứng im trên lò sưởi,
Nắm lấy những xác hạt ngô hoang dã như những con mèo mẹ hung tợn
tha đàn con của mình.
Bà không nói nhiều với tôi hay mẹ,
nhưng khi bà nói, bà nói một cách trôi chảy
những ngôn ngữ cổ xưa, có một từ cho mọi cảm xúc, âm thanh
và sự chuyển động dưới bầu trời, như con đường con thằn lằn
di chuyển trên tảng đá, hay hơi thở của em bé chìm vào giấc ngủ,
hay tấm chăn bị xô lệch bởi chuyển động của cơ thể
sau một đêm hoà quyện khoái lạc.
Bà thấy lưỡi mình giờ xoắn vặn
thành những hình dáng mà miệng bà không quen,
và bà chỉ có thể rút ra từ đó những ngôn ngữ của người chết
soi sáng những ảo ảnh mà mẹ tôi và tôi sợ hãi.
Chúng tôi nói với bà bằng tiếng Lotha ngượng ngùng của mình,
với nhiều giọng điệu tiếng Anh phá huỷ
âm thanh của thác nước và giai điệu của hoa bách hợp
trong khi giả vờ như không có gì bất ổn.
Thường thì lời của chúng tôi nói với bà những điều chúng tôi không cố ý,
nên chúng tôi thường để lưỡi nghỉ ngơi và để
cơ thể nói lên.
Vào ngày hôm đó, khi bà gọi tôi vào hang tối của bà,
đôi tay trông như móng guốc hơ ấm quanh lò than,
bà bảo bà đã thấy một giấc mơ,
móng guốc trên đầu gối:
“Trong giấc mơ đó, cháu yêu, cháu xé hàng rào gỗ
của nhà cha cháu và đóng một con tàu từ chúng,
và từ miệng cháu mọc ra những bông đỗ quyên, cứ thế thôi.”
Sợ hãi, giọng tôi vỡ tan từng mảnh khi tôi khóc,
nghĩ rằng một ngày nào đó có lẽ tôi sẽ trở thành một cái cây,
hay tệ hơn, một con tàu bơi trong vũng bóng tối.
“Aka, ti kyvua,” bà nói. “Chỉ là một giấc mơ thôi.” [1]
Bà bước ra khỏi bếp như một con hươu bị thương tìm nước,
từ vũ trụ đó nơi ngô và thịt khắc những hình dạng vào màn đêm,
và chỉ lúc đó tôi mới cảm thấy những âm tiết rời khỏi miệng mình:
“Atsu, kolo woala?” [2]
[1] “Cháu à, đừng sợ.”
[2] “Bà ơi, bà đi đâu vậy?”
Nguồn: sapiens. org - Speaking in Tongues
Gần đây, giới nhân loại học Hoa Kỳ được khuyến khích không chỉ ghi chép câu chuyện về văn hoá của cộng đồng mà mình nghiên cứu bằng văn bản mà có thể sử dụng việc sáng tác thơ để nói lên những cảm xúc của mình và hiện trạng văn hoá mà nơi mình nghiên cứu. Chúng tôi xin giới thiệu một bài viết đầu tiên để minh hoạ cho phương pháp này.